Pages

Lá thư từ CTR: Bí kíp xuất hồn

Kính thưa quý độc giả,

Ai trong chúng ta cũng sợ Thần Chết, nhưng không ai tránh khỏi cái chết. Làm thế nào để có thể chết khi còn đang sống? Làm thế nào để có thể đối diện với cái chết thông minh và không sợ hãi khi vòng đời kết thúc?

Câu trả lời chính là thực tập xuất hồn thành công. Kỹ thuật xuất hồn chính là trụ cột để tạo ra cái chết an lạc.

CTR xin thông báo đến quý độc giả trong giới “giang hồ thiền định” một tin rất vui; đó là CTR đang có trong tay Bí kíp Chân Kinh dạy XUẤT HỒN made in Vietnam 100% của ông Tổng Quản.

Có thể quý vị sẽ mỉm cười cho là CTR quảng cáo quá lời, vì hiện nay đã sẵn có rất nhiều tài liệu dạy về xuất hồn trên phương tiện truyền thông đại chúng. Điểm đáng chú ý nhất là những thông tin từ bài viết đặc biệt này đã làm đảo lộn những hiểu biết thông thường từng được đề cập đến trong lãnh vực xuất hồn. Quý độc giả nào đã từng theo đuổi thực hành xuất hồn sau nhiều năm tháng mà chưa thành công, sau khi đọc xong tài liệu này, CTR tin rằng quý vị sẽ nhanh chóng nhận ra vì lý do gì khiến cho việc tập luyện của quý vị bị thất bại.

Đây là một trong những bài viết then chốt nhất của CTR blog. Nó là tinh hoa cả đời miệt mài tu tập của ông Tổng Quản; và quan trọng nhất: Nó là tấm bản đồ được vẽ lại từ Thực Chứng.

Bài viết này xin kính tặng và tri ân quý độc giả có nickname motcoidive. Nhờ bạn chia sẻ kinh nghiệm tu tập về xuất hồn của mình mà độc giả trang blog có cơ hội để giao lưu cùng Tổng Quản. Hy vọng bạn sẽ tìm được câu trả lời cho những thắc mắc và tìm được chút lợi lạc cho hành trình tu tập.

CTR cũng chân thành biết ơn lòng từ tâm rộng lớn của ông Tổng Quản đã hoan hỉ chia sẻ kinh nghiệm tu tập của bản thân mình, với mong muốn giúp người đi sau đỡ gian nan vất vả.

Kính mời quý độc giả cùng đón đọc tài liệu này trong một vài ngày tới.

CTR



Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 38

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 38: Trận Chiến Cuối Cùng Armageddon  
             giữa Con Người Thần Chết (phần 5)

             Lý Thuyết Kỹ Thuật Xuất Hồn  
             dựa trên cơ sở tài liệu Luận Thực Tế

 

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Chắc là tại kiến thức về Thiền Định của tôi rất giới hạn, cho nên sau bao nhiêu buổi nói chuyện với Ông, tôi vẫn cảm thấy lúng túng quá; chưa hình dung nổi Xuất Hồn là sao nữa. Lý thuyết tôi còn chưa thông, thì làm sao có đủ tự tin để tập luyện. Kể ông nghe chuyện này vui lắm. Tôi lang thang vào internet và đọc được vài tài liệu nói rất chi tiết tập Xuất Hồn, với thời gian chỉ cần 1 tháng thôi. Rất ấn tượng. Tuy nhiên dịch giả cuốn sách đã đưa ra thông báo quan trọng như sau:

"Nội dung của quyển sách nầy, chỉ dùng để đọc giải trí và tham khảo. Không được dùng để thực hành. Độc giả chịu hoàn toàn trách nhiệm về tất cả những gì xảy ra cho mình về mọi mặt nếu thực hành theo nội dung trong sách đã chỉ dẫn !!!"


Tôi nói thẳng ông đừng buồn tôi nghe. Chẳng biết "Cuốn Tạp Thư" của Ông có gì hay về vấn đề này không, nhưng cá nhân tôi đọc nhiều sách báo nói về chuyện xuất hồn rồi. Tôi nghi là chẳng ai thực sự xuất hồn được trong lúc còn đang sống đâu.


- Ông Tổng Quản: Mặc dù chúng ta đã trao đổi qua nhiều buổi nói chuyện về vấn đề xuất hồn, nhưng vẫn còn rất nhiều vấn đề cần phải bàn tới. Lý do là vì vấn đề này có quá nhiều thông tin ngược chiều nhau, và người cung cấp thông tin đều là những tác giả lớn (của Pháp cũng như của Mỹ) về lãnh vực này. Chính vì vậy nó làm cho người tập xuất hồn chắc chắn phải lúng túng. Có một tác giả người Pháp, cho biết là khi xuất hồn, cái Hồn có thể để lại dấu tay trên bột mịn, trên bụi ở trần nhà. Tác giả này cho đó là bằng chứng cụ thể về việc xuất hồn. Trong khi một tài liệu khác được viết bằng tiếng Anh (tác giả này viết tới mấy chục cuốn sách, tự cho mình là đại diện cho trường phái mật giáo Tây Tạng) thì lại khẳng định là xuất hồn không để lại dấu tay. Ông giải thích như sau: "Vật chất Hồn có thể đi xuyên qua nhà cửa, sông núi … thì làm sao có thể để lại dấu tay trên bột mịn".

Mặt khác, các tác giả lại không đồng ý được với nhau Hồn là cái gì. Điều này thật là thách thức cho người tập luyện. Học xuất hồn mà chính mình không biết Hồn là cái gì thì kể ra hơi bị khó!

Kính thưa quý độc giả cùng Tam Tiểu Thư, bây giờ chúng ta tạm thời quy ước với nhau (như một mặc định): Sử dụng từ ngữ Hồn với ý nghĩa phổ cập nhất và dĩ nhiên rất thiếu chính xác. Quý vị bắt đầu thực tập. Thế rồi qua thời gian thực tập tính bằng nhiều năm tháng và có thể là nhiều thập kỷ, sau những thất bại chồng chất những thất bại, nếu may mắn thành công, thì chính quý vị sẽ vỡ lẽ cái Hồn là gì, và cái gì đã làm cho mình lầm lẫn mấy chục năm.

- Tam Tiểu Thư: Ông nói nghe nản quá. Tôi nghĩ ở thế gian này, tuýp người dấn thân để cầu tìm Chân Lý như ông hơi bị quá hiếm. Ông đã mất cả đời người để tu tập, chắc ông cũng không nỡ nào để Tam Tiểu Thư này phải thất bại chồng chất!
Ông vui lòng chỉ lại cho tôi con đường Ông đã từng đi qua; và kể lại những gì Ông đã “vỡ lẽ” sau cả đời tu tập được không Ông?
- Ông Tổng Quản: Chắc chắn trong chúng ta, sẽ có người tự hỏi: Những vị viết những tài liệu về việc xuất hồn, không biết thực sự họ có xuất hồn được không? Vì căn cứ vào kinh nghiệm bản thân, mình tập theo cách họ chỉ dẫn, rồi sau những tháng, những năm chồng chất mình có xuất hồn được đâu.

Có một tác giả còn cho biết, sau khi xuất hồn ra khỏi cơ thể vật lý, họ có đến thăm viếng một dạng siêu thị. Họ có lựa chọn hàng hóa, giá cả, rồi hôm sau sẽ đi mua hàng.

Tình tiết này làm cho các khoa học gia hiện đại đưa ra những nhận xét như sau: Nếu xuất hồn có thể đi bất cứ nơi nào, thậm chí đến các hành tinh trong Thái Dương Hệ, thì tất nhiên các Hành Tinh ngoài Thái Dương Hệ cũng nằm trong tầm tay. Như vậy các cơ quan hàng không vũ trụ, khỏi cần phải tốn nhiều tỷ đô la để đưa xe tự hành lên sao hỏa. Việc ra lệnh và xe tự hành thực hiện được lệnh, mất trên hai chục phút với vận tốc của ánh sáng. Mặt khác, nếu việc xuất hồn được ứng dụng trong chiến tranh, thì phải nói là … không còn gì để nói nữa!

- Tam Tiểu Thư: Có những vị còn cho rằng người tu Thiền Định có khả năng phân ra hàng tỷ cái Thân tương tự rồi đi đến nơi kiểm tra khả năng tu tập của đệ tử hoặc để tham gia những hội nghị quan trọng nữa kìa.

Nền khoa học hiện đại thật là kỳ diệu, tôi thật biết ơn và thán phục công lao trí tuệ của các khoa học gia. Nhờ họ mà các tiện nghi trong cuộc sống bình thường còn hơn cả trong mơ, thậm chí còn hơn cả trong chuyện Phong Thần của Trung Quốc. Rõ ràng khoa học cũng là một dạng thần tiên. Thiên lý nhãn, thiên lý nhĩ, kiếm quang, sai bảo thần linh … để làm những việc mình mong muốn đều trong tầm tay hiện tại của con người. Máy bay không người lái B47A chính là thần sấm thần sét … Kể cả tàng hình cũng đã thành hiện thực. Một người bình thường chỉ cần có khoảng trên 10 đô la Mỹ, với hệ thống Viettel là đã có thiên lý nhĩ … chẳng cần tu hành cho nhọc thân mệt xác, đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt!

Nhưng ở một chừng mực nào đó, tôi thấy dường như khoa học là một người khổng lồ khuyết tật. Tôi quê mùa nên không biết diễn tả làm sao cho chính xác. Thôi để tôi diễn tả theo kiểu nông dân Việt Nam cho ông nghe nhé. Thí dụ là tôi yêu một ai đó. Dĩ nhiên là tôi cũng muốn người ta yêu tôi như tôi yêu người ta, nhưng khổ thay anh đó lại yêu cô khác! Vậy thì khoa học có thuốc gì để cho anh ta uống và đáp ứng được yêu cầu yêu của tôi không? Tôi có ra tiệm thuốc Tây ở trung tâm thành phố và hỏi mua, nhưng người ta trả lời hàng chưa về. Họ có bán thuốc để trợ giúp về tình dục, nhưng thuốc về tình yêu thì họ bảo: "Sorry, i cann't help".

Yêu là gì chỉ những chuyện vẫn không,
Vì thế nhân là bạc bẽo vô cùng
,
Yêu một thuở để trọn đời cô độc
!


Nếu có thuốc để chữa bệnh yêu, thì có lẽ không còn những vần thơ như trên. Khoa học thẩm mỹ của con người sẽ trở nên tẻ nhạt. Tôi cũng như mọi người đôi khi nằm mơ thấy ác mộng. Nếu tôi có hỏi Bác Sĩ để xin kê toa thì có lẽ … phải chờ đến kiếp sau mới có thuốc.

- Ông Tổng Quản: Những gì cô thắc mắc về nền văn minh khoa học kỹ thuật của con người là rất đúng. Gã khổng lồ khoa học dường như thiếu một chân để đứng cho vững. Thật vậy, chúng ta không tìm thấy một bộ môn khoa học nào nhằm chăm sóc sức khỏe tinh thần cho con người, chăm sóc tình cảm của con người, làm con người vơi đi nước mắt, giảm bớt khổ đau. Không có bộ môn khoa học nào thực sự xoa dịu được nổi đau của người mẹ khi đứa con chết trên tay mình. Người chết rồi chỉ còn một người bạn duy nhất là nỗi cô đơn …

Ðiều này không có gì là lạ, vì khoa học hiện đại là hệ quả của trí tuệ, của tư duy con người. Họ sử dụng luận lý hình thức quy ước, kinh điển … Đối tượng của khoa học là thế giới khách quan, vật chất từ vi mô (Microcosm) cho đến vĩ mô (Macrocosm). Khuynh hướng của khoa học hiện đại, ai cũng biết, là có tính hướng ngoại.

Các lý thuyết về vật lý nhiều vô số kể, lý thuyết nào cũng uyên bác, hoành tráng. Tác giả là các vị giáo hoàng về vật lý lý thuyết: Vũ trụ song song, vũ trụ toàn ảnh (Holographic Principle), vật chất tối, lỗ đen, lý thuyết thống nhất bốn tương tác.

Thế nhưng đời sống tinh thần của con người, đời sống tình cảm, đời sống gia đình … thì hình như không có gì được cải thiện. Một cô hoa hậu thế giới vẫn khóc vì bệnh ung thư … Về tình yêu thì không khác gì một cô gái vô danh trong thời tiền sử. Hận thù, bạo tàn, áp bức, đạo đức giả … Không thấy một lý thuyết khoa học nào tỏ ra hữu hiệu, để làm giảm bớt những tình cảm tiêu cực của con người nói trên.

- Tam Tiểu Thư: Nền khoa học hiện đại dường như không lấy con người làm trọng tâm, làm mục đích, làm cứu cánh cuối cùng. Nói một cách khác, nền khoa học hiện đại là một Thiên Thần gẫy cánh, cực kỳ thông minh, nhưng lại thiếu một lương tri, một ý thức đạo đức lành mạnh.
- Ông Tổng Quản: Việc Xuất Hồn muốn phát triển phải dựa vào một lý thuyết hợp logic, phù hợp với quy luật khách quan. Hiệu quả cuối cùng là khi ai đó tập mà xuất hồn được thực sự, thì đó chính là cái thước đo thực tế.

Cuốn Tạp Thư có một số thông tin có thể làm cho quý độc giả ngạc nhiên:

Những tài liệu như: Vi diệu pháp, tài liệu Patanjali, Tam Pháp Độ Luận … không phải là do con người bình thường viết ra và không phải là dành cho con người bình thường đọc. Nó được viết ra bởi các Thực Thể xuất hiện trong các trạng thái Định mà có. Nói một cách khác cho dễ hiểu, khi ai đó thật sự Nhập Định, họ tự chuyển hóa thành một con người khác, khác hẳn với con người mà họ sinh hoạt bình thường. Thực Thể này có một cấu tạo Tâm và Sắc, tùy theo tình trạng Định Tâm mà họ tồn tại. Thí dụ nếu hiện hữu ở Thiền Hữu Sắc thì họ có các thông tin của trình độ Thiền Hữu Sắc. Khi họ hiện hữu ở trạng thái Vô Tưởng Định, thì họ có những kiến thức, những thông tin hiểu biết tương ứng với môi trường họ đang sinh hoạt là Vô Tưởng Định.

Do đó, đối tượng của lý thuyết mà chúng ta đang đề cập tới là đối tượng phi vật chất, khác hẳn với đối tượng của khoa học hiện đại. Thêm vào đó, khuynh hướng của nó là hướng nội.

Rất nhiều quý độc giả từng đọc sách vở thiên kinh vạn quyển. Nhưng khi tiếp cận với những tài liệu nói trên thì cảm thấy vô cùng ngỡ ngàng. Lý do dễ hiểu là vì không có sự tương ưng giữa người đọc và tài liệu.

Thực sự, những tài liệu nói trên chính là Chân Kinh, là ngôi sao Bắc Đẩu, là máy định vị (GPS), là kho báu vô giá của người đắc Định thật sự. Chắc chắn trên tiến trình tập luyện, khi có những vướng mắc, khi có những việc không hiểu được, khi có hàng trăm hàng ngàn trở ngại … thì những tài liệu nói trên chính là người bạn đồng hành không thể thiếu, là người Thầy sáng suốt giải thích những khúc mắc.

Tài liệu này cần cho ai đó tập Xuất Hồn nói riêng và tu Thiền Định nói chung. Chúng ta sử dụng nó như một máy định vị. Nhờ nó chúng ta biết mình đang ở đâu, biết lộ trình mà chúng ta cần đi tới điểm cuối cùng. Như chúng ta đã nói ở trên những tài liệu này do những con người tu Thiền Định viết ra, căn cứ vào thực tế của Thực Chứng.

- Tam Tiểu Thư: Những gì ông nói khá ấn tượng. Vậy ông có thể trình bày Kỹ Thuật Xuất Hồn cho tôi nghe được không?
- Ông Tổng Quản: Ok

Bước đầu tiên để tập Xuất Hồn là chúng ta cần phải quy ước với nhau, mặc định với nhau cái Tôi là cái gì? Công việc này làm với mục đích duy nhất là để phục vụ cho việc Xuất Hồn được tiện lợi. Chính vì không xác định được, không định nghĩa được cái Tôi là cái gì, nên sẽ vô cùng lúng túng không biết phải làm sao. Chúng ta tạm quên đi những định nghĩa phổ cập của cái Tôi qua cái nhìn của khoa học, văn chương, triết học ... vì nó không thực tế cho bộ môn này, nó chỉ làm cho chúng ta thêm bối rối, vì thiếu tính chất nhất tâm khi cần ra một cái lệnh.

- Tam Tiểu Thư: Đồng ý với Ông. Theo
Ông thì con người là cái gì?
- Ông Tổng Quản: Không phải là theo tôi, mà đúng hơn là theo thông tin của Cuốn Tạp Thư, thì con người được cấu tạo bởi 4 thành phần. Cách chia chẻ này chỉ có một mục đích duy nhất để phục vụ
Kỹ Thuật Xuất Hồn, và nó cũng mang tinh thần của các bộ Luật. Bốn thành phần đó là:

* Một cái Tôi thường hằng.
* Những cái Tâm.
* Những yếu tố Sắc.
* Năng lượng tiềm ẩn: Nghiệp lực tích cực và tiêu cực.

Rất mong được Tam Tiểu Thư cũng như quý độc giả chấp nhận cách sắp xếp này. Tài liệu Tạp Thư còn nêu ra một tính chất đặc biệt của 4 yếu tố nói trên: Đó là tính chất cố hữu không thể tách rời, lệ thuộc vào nhau (inherent), hòa tan vào nhau, trộn lẫn vào nhau. Do đó đối với việc Xuất Hồn, chúng ta thấy ngay nó mang tính chất phản lại thiên nhiên.

Những yếu tố nói trên chỉ tách ra trong một số tình trạng như: Hôn mê, sử dụng chất say, uống rượu, ma túy, nằm mơ, chết, xuất hồn, thiền định …

Với đại đa số quần chúng, thậm chí cả với những vị đã tu Thiền Định vài chục năm, không phải ai cũng phân biệt được các trạng thái tương tự như Thiền Định. Các từ ngữ được sử dụng lại vô cùng đa dạng, mà thật sự người ta cũng chẳng biết nó là cái gì. Thí dụ: 


* Get Into Hypnotic State.
* Deep Trance.
* Meditation.
* Astral travel (Astral projection).
* Leave or Enter the Body.

Nhập định, xuất thần, xuất hồn, xuất vía …

Người ta chỉ có thể giải thích được các trạng thái nói trên nếu thực sự hiểu được các lý thuyết mà ở trên đã đề cập đến, kèm với Thực Chứng kinh nghiệm của Thiền Định.

Cụ thể như sau: Thí dụ có một Thực Thể thường trực là cái
"Tôi", cái "Tôi" này quan sát các Tâm cấu tạo nên bản thân tôi ở một giai đoạn nào đó, thì tôi biết "Tôi" là cái gì. Trong Thiền Định, khi cái "Tôi" quan sát thấy có năm Thiền Chi là: Tầm, Tứ, Nhất Tâm, Hỷ, Lạc; thì tôi kết luận "Tôi" là một Thực Thể ở Sơ Thiền Hữu Sắc. Sự hiểu biết do thao tác đơn giản này, có khi phải tập luyện mất mấy chục năm! Có khi không bao giờ tập được cả! Có thể do áp lực của Năng Lượng Nghiệp Lực Tiêu Cực tiềm ẩn làm cho chúng ta mờ đi, lý trí mê muội.

- Tam tiểu Thư: Người ta có bao nhiêu kênh (channel) để tạo trạng thái Xuất Hồn? Nếu có nhiều kênh thì cần phải hệ thống hóa cho dễ hiểu.
- Ông Tổng Quản: Cuốn Tạp Thư cho biết có 3 kênh, có 3 cái cửa để đi vào trạng thái Xuất Hồn. Ðây là 3 trạng thái ý thức của tâm lý học:

* Ý thức > Tiềm thức > Vô thức.

3 trạng thái ý thức của tâm lý học này có thể tìm thấy sự tương ứng với 17 sát na của Luồng Tâm Thức mà ai cũng biết.


Còn tiếp ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!




Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 37

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 37: Trận Chiến Cuối Cùng Armageddon
             giữa Con Người và Thần Chết (Phần 4)

             Tự đào luyện kỹ năng Xuất Hồn (sic)
             là tiền đề cho việc bỏ xác mai sau (tt)


- Ông Tổng Quản (nói tiếp): Đến đây thì quý độc giả cũng như Tam Tiểu Thư có thể tự trả lời câu hỏi do chính mình đặt ra, là tại sao ngày nay người ta không sử dụng được kỹ thuật như ngài Sakya Muni để bỏ xác. Ai cũng biết mình không thể có cái mình không có; đơn giản là có tu thiền định đâu mà sử dụng kỹ thuật thiền định! Ai cũng biết bản thân ngài Sakya Muni không hề niệm câu Nam mô A Di Đà Phật để nhập định. Xin được nhắc lại, Chánh Định của trường phái Phật Giáo là “Chú tâm vào một vật duy nhất”; chứ không phải là niệm câu Nam Mô A Di Đà Phật theo ngài Tuệ Viễn người Trung Quốc. Cần phải nói rõ một điều, khoa học chỉ quan tâm đến sự hiểu biết, chứ không phân biệt tác giả có quốc tịch nào.

Sở dĩ phải đặc biệt quan tâm đến vấn đề này vì Thiền Định chính là cột trụ, là nền móng để tập luyện việc Xuất Hồn. Khi đang đọc những dòng chữ này, có thể có quý độc giả không ngờ Chánh Định lại đơn giản và quan trọng đến thế. Người ta thường nói các tư tưởng lớn gặp nhau. Người Pháp nói: “Porter vortre attention sur … votre tete”. Người Mỹ nói: “focus on an object until you can visualize perfectly”. Qua quá trình tập luyện,
quý độc giả sẽ tự mình phát hiện ra tính chất hiệu quả của nó. Thực tế cho biết là muốn làm cho tư tưởng dừng lại, không có cách nào khác. Đúng hay sai, chúng ta sẽ đánh giá qua thực hành.

Để tạo điều kiện tiếp cận việc Xuất Hồn, về mặt lý thuyết cũng như mặt thực hành, có lẽ chúng ta nên thỏa thuận với nhau về ý nghĩa của từ ngữ Xuất Hồn để tránh ngộ nhận, hiểu lầm.

Hiện tượng mà chúng ta gọi là
Xuất Hồn (O.B.E, N D E, ASTRAL PROJECTION …) đã có từ lâu qua nhiều nền văn hóa trên thế giới: Thánh Kinh Cơ Đốc Giáo, Trường phái Thông Thiên Học, Hồi Giáo, Mật Giáo, cổ Ai Cập, Trung quốc, Ấn Độ, Nhật Bản v.v… Nhưng từ ngữ để mô tả hiện tượng này thì quá khác biệt, có lẽ vì tính chất mơ hồ của hiện tượng. Thử đan cử một số từ ngữ của một số ngôn ngữ quen thuộc của người Việt Nam trong thời gian gần đây. Người Pháp gọi là “dedoublement”, người Mỹ gọi là “The soul, astral body, person spirit”. Họ còn gọi chung một từ ngữ là “apparition”. Việt Nam gọi là: Hồn, Vía, Vong Linh. Để tiện dụng, xin đề nghị chúng ta thống nhất dùng từ “Hồn” trong bài viết này. Tuy nhiên không nên ngộ nhận từ ngữ và thực tế. Thực tế việc chúng ta gọi là Xuất Hồn, thì không phải là xuất cái Hồn mà là xuất cái Tôi. Trường phái Phật Giáo gọi là “pudgala”. Cái Hồn chỉ là một trong nhiều dạng thân xác của một cơ thể vật lý. Nói một cách khác, cái Hồn mà không có cái Tôi, thì nó chỉ là một thây ma vô dụng. Vì thế nếu chỉ Xuất Hồn (astral projection), thì đó là một việc làm vô nghĩa, cái Hồn trở thành một thứ zombie tẻ nhạt, chán ngắt! Việc này chúng ta sẽ trở lại khi tiếp cận với chuyên đề.

Có lẽ vì không giải quyết được ẩn số này, hay nói một cách khác, những người thực hiện việc Xuất Hồn (practitionner), cũng như khoa học gia hiện đại; nếu căn cứ vào các tài liệu được đăng tải trên các phương tiện truyền thông, thì rõ ràng người ta không tìm được đáp án cho bài toán
Xuất Hồn. Cả người tập luyện lẫn khoa học gia đều cho là có một cái Hồn đi ra khỏi cơ thể vật lý. Cái Hồn này thậm chí đi đến tận sao Mộc (Jupiter) để quan sát. Người ta đã tranh luận về độ chính xác của việc quan sát này. Khoa học gia thì cho rằng mức độ chính xác chỉ khoảng 37%. Kết quả này không thuyết phục và không gây ấn tượng.

Thông tin của cuốn Tạp Thư thì cho biết, cái
Hồn (kể cả cộng chung với cái Tôi) khi Xuất ra, thì tuyệt đối không có khả năng, cũng như không có những giác quan tương thích, để quan sát thế giới vật chất tự nhiên của con người. Nói tóm lại, người ta tranh luận một việc không có thật.

- Tam Tiểu Thư: Nếu tôi nhớ không lầm, thì ông từng nói có rất nhiều trường phái dạy cách Xuất Hồn, đúng không ông? Theo cơ chế thị trường, khi ông tiếp thị một sản phẩm, thì chí ít ông cũng phải giới thiệu về nguồn gốc, tính năng, giá cả … chính sách hậu mãi nữa chứ. Như thế người tiêu dùng tùy vào sức lực, nhất là khả năng kinh tế để chọn lựa cái gì phù hợp cho mình. Thời buổi này, kể cả kỹ thuật
Xuất Hồn, cũng phải cảnh giác với hàng kém chất lượng, tai hại hơn nữa là hàng nhái, hàng dỏm!

Để tôi trình bày cho cô nghe một vài trường phái
Xuất Hồn; nhưng không ai dám bảo đảm là những trường phái được trình bày sau đây thực sự làm người ta Xuất được Hồn.

Trước nhất xin trình bày trường phái của người Pháp đã có hơn trăm năm nay. Đây là sản phẩm “frabrique en france” dựa trên cơ sở khoa học thực nghiệm. Tác giả cho biết, khi Xuất Hồn ra khỏi thân xác vât lý,
Hồn có thể để lại vân tay, dấu tay trên bột mì, trần nhà. Sau này khi trình bày kỹ thuật tập luyện, chính quý độc giả có thể tự đánh giá là việc này có hay không. Thật vậy, nếu có thể để lại được dấu vân tay thì quá thuyết phục, nhưng vấn đề là có để lại được vân tay hay không?

Sản phẩm tiếp theo có nguồn gốc từ Anh Quốc; “Made in England”; bây giờ là sản phẩm của Hoa Kỳ. Quý vị có thể tìm trên những trang web những bài viết, những bước để tập luyện, những video clip của rất nhiều tác giả thực hiện luyện tập; nhưng những người phản biện cũng đông đảo không kém. Có quá nhiều từ ngữ để phản biện: Tưởng tượng, nằm mơ, mất trí, “out of mind”. Nhẹ hơn thì: không thuyết phục, không gây ấn tượng. Chúng ta sẽ tiếp tục đề cập tới trong những phần sau.

- Tam Tiểu Thư: Thôi đi ông Tổng Quản ơi, ông có vẻ “sính ngoại” quá đi. Mình người Việt thì xài hàng Việt đi ông. Chả lẽ Việt Nam không ai Xuất Hồn được? Hơn nữa, theo ý tôi thì cơ thể các sắc dân về di truyền là khác nhau. Biết đâu phương pháp Xuất Hồn dành cho dân Tây thì đối người Việt nó lại không hiệu quả?

- Ông Tổng Quản: Cuối cùng tôi sẽ nói về một sản phẩm có nguồn gốc khá khiêm tốn và mang tiếng là tiêu cực. Không nói chắc quý vị cũng biết ngay đây là sản phẩm “made in Viet Nam”. Sản phẩm có ưu điểm duy nhất mà chắc chắn quý vị sẽ hưởng được khi sử dụng nó, là không sợ đụng hàng. Hy vọng những quý vị là người Việt Nam sẽ ủng hộ hàng nội địa. Biết đâu “phát minh thường của người ngoại đạo”.

Trước khi trình bày, chúng ta cũng nên quan tâm tới những quan điểm phản biện, mà người ta gọi là hiểu và giải thích một cách bi quan (skeptical interpretation). Không phải người ta chỉ hoài nghi về vấn đề Xuất Hồn mà còn về rất nhiều vấn đề khác nữa. Có người cho việc Xuất Hồn; nói nghe có vẻ Việt Nam; là nhảm nhí, là chuyện vặt vãnh, là giai thoại (anecdotal). Họ sẽ tin và không còn gì để bàn cãi chỉ khi nào bắt được một cái Hồn do ai đó Xuất ra, hay bắt được một con Ma đang lang thang không nơi cư trú. Việc này có lẽ chúng ta không bao giờ có thể thực hiện được vì những lý do sau:

- Luận lý hình thức bảo thủ của chúng ta là trở ngại để xây dựng lý thuyết.
- Máy móc của chúng ta không có những bộ phận cảm ứng tương thích.
- Nền khoa học duy vật là một vỏ bọc đã để lộ những giới hạn của nó.

Có thể vì những lý do nêu trên, nên khi đứng trước những hiện tượng vượt qua những giới hạn hiểu biết của khoa học, người ta mới phát biểu: “because there is no evidence that the soul exists”, “không có bằng chứng là có hồn”.

Sự thật thì bằng chứng khoa học là cái gì? Khoa học, bắt nguồn từ chữ La-Tinh có nghĩa là hiểu biết. Tất nhiên có nhiều hệ thống hiểu biết. Lịch sử cho biết nếu chủ quan chỉ cho hệ thống của mình là đúng, hệ thống hiểu biết khác là không đúng, thì con người biến thành con vật thử nghiệm đáng thương của một loại chủ thuyết cực đoan. Người ta đã nhân danh một hệ thống nào đó, rồi đưa thiên tài Bruno lên giàn hỏa, giam Copernicus trong một tháp chuông! Chỉ vì một hệ thống tư duy không đúng đã tiêu tốn của nhân loại bốn, năm chục triệu người. Khổ nỗi lịch sử lại có vẻ như chu kỳ chứ không phải là trục hệ. Cái gì không phù hợp với kiểu khoa học của mình thì gọi là giả, mơ, tưởng tượng (pseudo science, dream state, imagining).

Nếu đặt giả thuyết Chết không phải là hết, mà chỉ là thay đổi trạng thái hiện hữu, thay đổi môi trường hiện hữu; thì những vị khoa học gia từng tuyên bố như trên, có lẽ sẽ thấy mình hụt hẫng!

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Mình tuy sinh hoạt nơi rừng rú nông thôn, nhưng tôi cũng có nhận xét là chủ nghĩa cực đoan dường như đồng nghĩa với chủ nghĩa phiêu lưu. Tôi thấy Tây, Tàu, và cả Ấn Độ nữa, họ hay đề cập tới chủ thuyết Trung Dung, âm dương hòa hợp. Ông thấy đấy, trong bộ môn Châm Cứu, thực tế cũng cho biết là muốn đưa đến tình trạng ổn định, quân bình, thì khi châm huyệt âm cũng thời châm một huyệt dương.

- Ông Tổng Quản: Các bộ môn khoa học thường có nhận xét ở mức độ tư tưởng khá giống nhau, thí dụ như: “không có gì tự nhiên mà có, không có gì tự nhiên mà mất”. Bộ môn khác thì cho biết “không thể tạo ra năng lượng, không thể làm mất đi năng lượng”. Hình như phát biểu này đến bây giờ cũng không bị vi phạm. Có lẽ ai cũng biết không thể có cái máy vĩnh cửu. Cũng chính vì lý do này mà xe hơi chạy điện không được đón chào, xe tạp chủng (hybrid) vẫn là giải pháp tình thế. Điều này cho thấy khái niệm của nhiệt động lực học đã chi phối một cách triệt để. Rõ ràng là năng lượng không thể tự nhiên mà có. Ở thế giới Vi Mô (microcosm) cũng như Vĩ Mô (macrocrosm), chúng ta không thể tìm ra một cái gì đó ở trạng thái không vận động, không thể tìm ra một cái gì đó chỉ có một tính chất. Cứ cho là chủ nghĩa Duy Vật có một giá trị tuyệt đối, thì con người
Duy Vật chúng ta cũng phải nằm trong hệ thống Duy Vật nói chung. Hai tính chất mà con người phải có là: Tính chất vận động và phải có nhiều tính chất không thể nào có một. Vấn đề thực sự chỉ còn là vấn đề của từ ngữ. Cụ thể là từ ngữ có thể Duy Tâm hoặc Duy Vật; nó lệ thuộc vào quan điểm của từng cá nhân hay xã hội. Tóm lại, Chết chỉ là sự thay đổi của trạng thái hiện hữu.

Kinh nghiệm dân gian trên khắp thế giới, dù ở bất cứ giai đoạn lịch sử nào, thì những ngôn ngữ được biết tới, đều có sử dụng từ ngữ: MA. Chỉ cần hỏi một người bất kỳ về vấn đề liên quan tới Ma hoặc Vong Linh, Hồn, Vía … thì câu trả lời chắc chắn sẽ là: Tôi đã được nghe nói về vấn này hoặc chính tôi đã thấy Ma trực tiếp không qua trung gian ai cả. Có thể đưa ra một so sánh dân giả như sau: Trong thời thế chiến thứ 2 (1940-1945), do nhu cầu của chiến tranh, radar đã ra đời. Nó được mô tả là đôi mắt ma thuật (oeil magique), nhờ vậy mà Anh Quốc tránh được tổn thất do không lực của Đức (Royal Air Force), có đủ thời gian để truy cản. Nhưng bây giờ với kỹ thuật tàng hình (Stealth) của B1, B2, F22, F35 … radar khó mà phát hiện, nghĩa là thực tế sẽ không nhìn thấy. Thế nhưng đừng quên rằng máy bay của kẻ thù là một hiểm họa có thật. Nói cách khác, radar khó phát hiện không có nghĩa cuộc tấn công không lực là không có.

Việc báo mộng là một mô hình mang tính chất điển hình và phổ cập. Nó được các thực thể gọi là Ma, sử dụng rộng rãi. Có thể có nhiều quý độc giả từng là chứng nhân của hiện tượng này. Bất cứ ai cũng có thể đọc những tài liệu phổ thông trên thế giới, kể là người Chết đã hiện về báo tin cho thân nhân là họ đã chết, trước khi thân nhân nhận được điện tín báo về cái chết của họ (vào giai đoạn này chưa có cell phone, email … nên việc thông tin nhanh nhất là nhờ vào điện tín).


Còn tiếp ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!




Gloomy sunday

Kính thưa quý độc giả

Nhân loạt bài: "Trận Chiến Cuối Cùng Armageddon giữa Con Người và Thần Chết", ông Tổng Quản có đề cập đến tên của một bản nhạc nổi tiếng là GLOOMY SUNDAY (Chủ nhật buồn). Để thay đổi không khí, CTR xin trích dẫn lịch sử bản nhạc và những thảm họa do bản nhạc gây ra. Xin mời quý độc giả cùng theo dõi.

Chủ nhật buồn (phiên bản gốc tiếng Hungary: Szomorú Vasárnap; tiếng Anh: Gloomy Sunday) là một bài hát do nhạc sĩ dương cầm người Hungary tên REZSO SERESS sáng tác để diễn tả tâm trạng thất tình của mình. Nhưng Seress không ngờ rằng bài hát của ông bị "kết tội" là nguyên nhân làm cho hàng trăm người tự tử. Vì thế, nó được mệnh danh là "Bài hát thần chết". Nó còn được biết đến dưới cái tên "Bài ca tự sát Hungary" (tiếng Anh: Hungarian Suicide Song). Phạm Duy đã viết lời Việt cho bài hát này và cũng lấy tên "Chủ nhật buồn".

Hoàn cảnh ra đời
Một chiều buồn cuối năm 1932, bầu trời Paris thật ảm đạm, mưa nặng hạt và lạnh lẽo. Nhạc sỹ dương cầm Rezso Seress ngồi chơi đàn dương cầm bên cửa sổ. Một giai điệu chợt xuất hiện trong đầu ông và nửa tiếng đồng hồ sau, bài Szomorú Vasárnap ra đời.

Bài hát của ông nói về tâm trạng đau khổ của một người thất tình "ngồi một mình, nghe hơi mưa" và "đợi chờ không nguôi ngoai" và cuối cùng là "chủ nhật nào, tôi im hơi ... đến với tôi thì muộn rồi".

Những ảnh hưởng của bài hát

Bài hát ban đầu bị các hãng thu băng từ chối vì "nhạc và lời quá buồn thảm". Phải mất vài tháng trời, Seress mới tìm được một hãng băng đĩa nhận lời mua bài hát đó và phát hành tại nhiều thành phố lớn trên thế giới.

Khi bài hát được tung ra thị trường, bắt đầu xuất hiện những chuyện kì lạ. Tại Berlin (Đức), một thanh niên sau khi nghe bài hát đã phàn nàn với bạn bè rằng anh ta bị ám ảnh bởi giai điệu và ca từ của nó. Anh ta rơi vào trạng thái trầm cảm mà không sao thoát ra được. Cuối cùng anh ta dùng súng bắn vào đầu tự vẫn.

Vài ngày sau, cũng tại Berlin, người ta phát hiện một cô gái treo cổ tự tử và dưới chân cô là bài Szomorú Vasárnap. Báo chí bắt đầu loan tin về hiện tượng này, và liên tiếp các vụ án tương tự xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới như Hungary, Pháp, Mỹ. Bản thân Seress cũng rất kinh ngạc và không tin vào điều này. Nhưng khi người ta thống kê được hàng trăm vụ tự tử khắp thế giới có liên quan đến bài hát của Seress thì ông bắt đầu hoảng sợ thực sự.

Lệnh cấm lưu hành bài hát đã được nhiều nước đưa ra. Nhưng càng cấm thì bài hát càng nổi tiếng và danh sách những nạn nhân ngày càng dài thêm, ở mọi lứa tuổi, ngành nghề, màu da ...

Có tới 15 quốc gia đâm đơn kiện tác giả Seress buộc tội ông có liên quan đến những cái chết đó. Cơn sốt về bài hát lên đến đỉnh điểm vào năm 1936. Bất chấp lệnh cấm, bản copy của bài hát được bày bán khắp nơi trên đường phố Paris. Những lời đồn đại làm cho nhiều ban nhạc và ca sỹ không dám hát bài hát "chết chóc" này.

Nhạc sỹ Seress sau đó đã cố gắng thu hồi bài hát của mình nhưng không thành công. Sau này, chính Seress cũng tự tử vào năm 1968.

Giải mã điều bí mật
Các nhà nghiên cứu cho biết âm nhạc, điện ảnh, trò chơi ... có thể tác động đến tâm lý của con người, nhưng không phải là quyết định. Thời kỳ đó, Mỹ và châu Âu đang trong giai đoạn phát triển công nghiệp. Bối cảnh xã hội bị khủng hoảng kinh tế sau Đệ nhất thế chiến, nạn thất nghiệp gia tăng, hậu quả của chiến tranh gây ra sự chết chóc, thương vong ... Sự khủng hoảng xã hội sâu rộng này được thể hiện rõ nét với sự lên ngôi của học thuyết hiện sinh. Điều này tác động mạnh lên tâm lý của dân chúng và đẩy nhiều người trong số họ rơi vào trạng thái mất phương hướng, trầm cảm, thất vọng trong cuộc sống.

Trong bối cảnh đó chỉ cần thêm một tác động nhỏ từ bên ngoài như âm nhạc, phim ảnh ... có nội dung buồn thảm là có thể đẩy họ đến một quyết định tiêu cực.

Bài hát rất ảm đạm này chính là "giọt nước làm tràn ly". Thêm nữa là sự cộng hưởng thêu dệt của dư luận đã tạo nên cái "mốt tự tử" vào thời kỳ đó.

Các nhà tâm lý học cho rằng hiện tượng tự tử thời kỳ đó là do bối cảnh xã hội khủng hoảng tác động mạnh lên tâm lý con người và bản thân bài hát này, cũng như cái chết của tác giả chỉ là một biểu hiện bề mặt của cuộc khủng hoảng đó.

Thực tế cho thấy, sau Đệ nhị thế chiến, không còn hiện tượng tự tử vì bài hát nữa. Lệnh cấm bài hát này cũng đã bị bãi bỏ từ lâu.

Nguồn: Wikipedia

 .·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Gloomy Sunday Lyrics

Sunday is gloomy,
My hours are slumberless
Dearest the shadows
I live with are numberless
Little white flowers
Will never awaken you
Not where the black coach of
Sorrow has taken you
Angels have no thought
Of ever returning you
Would they be angry
If I thought of joining you?

Gloomy Sunday

Gloomy is Sunday,
With shadows I spend it all
My heart and I
Have decided to end it all
Soon there'll be candles
And prayers that are said I know
Let them not weep
Let them know that I'm glad to go
Death is no dream
For in death I'm caressin' you
With the last breath of my soul
I'll be blessin' you

Gloomy Sunday

Dreaming, I was only dreaming
I wake and I find you asleep
In the deep of my heart, dear
Darling I hope
That my dream never haunted you
My heart is tellin' you
How much I wanted you

Gloomy Sunday
 
.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Lá thư từ độc giả 3

Kính thưa quý độc giả của CTR blog
CTR mới nhận được một lá thư từ bạn đọc có nickname là Motcoidive chia sẻ về việc tập luyện xuất hồn. Được sự đồng ý của bạn Motcoidive, CTR đăng tải lá thư này để quý độc giả cùng tham gia ý kiến. Chia sẻ kinh nghiệm tu tập cá nhân là việc làm đem lại lợi lạc và phước báu cho tất cả chúng ta; những con người yêu mến chân lý. CTR sẽ mời Tổng Quản đối thoại cùng quý vị. CTR tin rằng cuộc đối thoại này sẽ cực kỳ thú vị. 

 .·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Nội dung của lá thư từ Motcoidive như sau:


Kính thưa nhóm CTR cùng các bạn,

Tôi đang theo dõi loạt bài viết có nội dung rất “lạ” về "Trận Chiến Cuối Cùng giữa Con Người Thần Chết" của CTR. Khi xem tới câu định nghĩa về xuất hồn của cuốn Tạp Thư: “Xuất Hồn: cái Hồn và cái Tôi cùng ra đi một lúc, đến đâu đó, bỏ lại thân xác vật lý. Định nghĩa này có lẽ có một không hai, nhưng nó giúp chúng ta một cách tích cực trong thao tác Xuất Hồn”, tôi thật sự kinh ngạc.

Tôi là một người yêu thích Thiền Định và cũng ý thức được tầm quan trọng của việc ra đi vào phút giây cuối cùng. Tôi cũng từng theo đuổi việc luyện tập xuất hồn nhiều năm nhưng vẫn chưa thành công. Theo sự hiểu biết của tôi thì:

ẤN CHỨNG XUẤT HỒN RA KHỎI XÁC là khi Thần ThứcThể Xác của con người được tồn tại ở hai nơi khác nhau; Tiếng Anh gọi là Out of Body Experience hay viết tắt là OBE .

 

Không ai biết thật rõ ràng OBE là gì. Những người đã từng có ấn chứng về OBE nói rằng họ Thấy rõ ràng là họ đã đi ra khỏi thân xác; trong lúc đó, họ có thể lảng vảng gần thân xác hoặc nhìn thân xác từ trên cao, họ có thể bay ra khỏi nóc nhà để đi thăm thân quyến của họ ở một nơi xa xôi nào đó và họ có thể đi ngang qua địa cầu một cách dễ dàng.

Câu hỏi của tôi là khi người ta
Thấy mình đi ra khỏi thân xác, thì rõ ràng là cái tôi nó vẫn còn ở lại thân xác nên nó mới thấy cái hồn đi ra.
 

Cuốn Tạp Thư thì lại cho rằng khi xuất hồn, thì cái Tôi và cái Hồn phải đi ra cùng một lúc. Như vậy thì mình không thể thấy mình xuất hồn ra khỏi cơ thể mình được, vì khi cái Tôi ra đi cùng với cái Hồn, thì cái gì còn lại để mà Thấy được Hồn đang xuất ra?

Quan niệm về xuất hồn của CTR đã làm đảo lộn tất cả những hiểu biết của cá nhân tôi (và có thể là rất nhiều độc giả khác nữa) về chuyện này. Tôi đã tập luyện rất lâu nhưng vẫn chưa xuất hồn được. Có khi nào do hiểu biết của tôi về kỹ thuật xuất hồn đã bị sai từ cơ bản nên tập luyện không có kết quả chăng?

Vài dòng mạo muội với thật tâm muốn hiểu được kỹ thuật này. Mong CTR hoan hỷ chia sẻ.

Kính chúc Tổng Quản, Tam Tiểu Thư cùng quý độc giả thân tâm an lạc.

Motcoidive




Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 36

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 36: Trận Chiến Cuối Cùng Armageddon
             giữa Con Người và Thần Chết (Phần 3)

             Tự đào luyện kỹ năng Xuất Hồn (sic)
             tiền đề cho việc bỏ xác mai sau


- Tam Tiểu Thư: Qua nhiều buổi nói chuyện với ông, tôi vỡ lẽ ra một điều, Xuất Hồn không phải là phép tắc đáng sợ của các Pháp Sư, không là trò chơi vô bổ, không phải sản phẩm của chứng hoang tưởng hoặc nhằm khêu gợi tâm lý tò mò và hiếu kỳ của con người. Xuất Hồn thật sự là tiên đề, là kinh nghiệm thực tế bản thân chuẩn bị cho việc bỏ xác mai sau trong trạng thái sáng suốt an toàn khi mình đã hết vòng đời. Việc tập luyện có vẻ cũng chẳng đòi hỏi những phương tiện cầu kỳ phức tạp, đắt tiền, đúng không ông? Tôi hy vọng nó nằm trong tầm tay của hầu hết mọi người, nhưng vấn đề là mình có cơ may biết được tới nó hay không thôi. Tiếp theo đó là mình cần có đủ kiến thức và kiên nhẫn để biến thành hiện thực.

Tôi còn một thắc mắc khác nữa (mà tôi nghĩ quí độc giả cũng vậy), là không biết việc
Xuất Hồn có phải là một hiện tượng có thật hay không? Thật sự tôi có thấy ai Xuất Hồn được bao giờ đâu? Theo ông thì có một lý thuyết nào để phỏng đoán việc Xuất Hồn là một khả năng có thể xảy ra trên thực tế, và phù hợp với logic của thế giới tự nhiên không? Ít ra thì ông cũng phải nói là căn cứ vào đâu mà ông cho là người ta có khả năng Xuất Hồn chứ? Ông nói mơ mơ hồ hồ thì tôi không tập theo ông đâu; vì nếu tập mãi mà không Xuất Hồn được thì ai chịu trách nhiệm “bồi thường thiệt hại” cho tôi chứ?

Ông Tổng Quản à, nếu mình cứ bàn luận mãi về đề tài Thần Chết, Xuất Hồn … mà chẳng ai làm được, thì e là blog này sẽ ế khách và phá sản. Độc giả sẽ nghĩ CTR là tái sinh của tác giả bản nhạc GLOOMY SUNDAY vào thế kỷ 21.

- Ông Tổng Quản: Cô cũng có lý đó, nhưng tôi lại cho là đến tận hôm nay, quí độc giả còn theo dõi những bài viết này là những vị có tinh thần nghiêm túc, quan trọng hơn nữa là có tinh thần trách nhiệm với chính bản thân của mình.

Ai cũng biết chết là có thật. Nó không thể tránh được và cũng không thể đảo ngược được. Những người thuộc trường phái hiện sinh đã phản ứng và cho cái chết là phi lý (la mort est absurde). Cái chết đối với Phân Tâm Học của trường phái Freud thì được trình bày với khái niệm Nhị Nguyên (conception dualiste). Đó là hai bản năng: bản năng tình dục và bản năng chết (instinct de mort) cùng tan biến vào nhau, trộn lẫn, kết hợp với nhau. Hai bản năng này là nền móng tiềm ẩn của tâm lý con người. Nếu chúng ta công nhận giả thuyết này, thì sẽ đưa đến một hệ quả là công nhận sự hiện hữu của các chất liệu sống (substance vivante) có khuynh hướng bảo thủ, thụt lùi; nghĩa là sẽ đi dần về cái chết. Người ta có thể nói rằng mục đích của tất cả các sự sống là cái chết. Cuối cùng có thể phát biểu một định đề: “Tất cả chất liệu được mang sự sống, có khuynh hướng trở lại trạng thái vô cơ ban đầu”. Tư tưởng này dường như tương thích với phát biểu của Thánh Kinh Cơ Đốc Giáo. Tuy nhiên, khái niệm này đặt chúng ta ở một trạng thái lưỡng nan (dilemme); vì nếu phát biểu trên là đúng thì chúng ta không giải thích được sự sanh sản của tế bào vì đó là bằng chứng về sự bất tử của các chủng loại. Chúng ta cũng không giải thích được bản năng tình dục.

Nhờ phương tiện truyền thông đại chúng phổ cập, người ta tiếp cận được với nhiều đề tài với nguồn thông tin đa dạng: Cận tử, ma, báo mộng ... Người tu Thiền Định ở bất cứ trường phái nào, cũng gặp những Vong Linh của những người đã chết. Người chết này có thể là thân quen hoặc xa lạ. Họ thường nhờ vả chuyển tải những thông tin cần thiết đến thân nhân, những tồn tại mà họ cần được giải quyết.

- Tam Tiểu Thư: À! Chuyện đó tôi cũng thường nghe người ta kể. Những nhà làm phim, nhà văn ... cũng hay viết truyện kinh dị đề cập đến các hồn ma về báo mộng này kia. Cá nhân tôi thì nghĩ những chuyện này 100% là tưởng tượng hư cấu. Hôm nay ông nói người tu Thiền Định hay gặp Vong Linh. Vậy tôi hỏi ông là tại sao người bình thường như tôi thì chả bao giờ gặp, mà người tu Thiền thì lại gặp được?

- Ông Tổng Quản: Việc này có thể lý giải khá đơn giản. Người tu Thiền Định giống như người có cell phone mà thân nhân của họ không có. Kỹ thuật Thiền Định chính là cái cell phone này. Ai cũng biết, các Vong Linh thường hiện về báo mộng cho thân nhân của mình trong lúc nửa tỉnh nửa mê. Do đó ngủ có thể được coi là một trạng thái Thiền thụ động. Ghost lab của kênh truyền hình Discovery tốn bao nhiêu công của, thời gian, nhân lực cũng chẳng có bằng chứng cụ thể nào đủ để thuyết phục sự hiện hữu của Ma. Có lẽ vật chất của thế giới Ma không tương thích với máy móc của thế giới con người. Tài liệu Tôn Giáo cho biết cái mà chúng ta gọi là nước, thì đối với thế giới khác là máu. Con người ăn cơm trên bàn, thì thế giới khác ăn thực phẩm vung vãi dưới đất. Cấu tạo Sắc (rupa) hay vật chất của Ma dường như khác hẳn con người. Khác cả về tổ chức Sắc. Hình như họ không bị lực tương tác hấp dẫn tác động. Kinh nghiệm dân gian cho biết họ (Ma) lướt đi trên mặt đất. Thế nhưng về cấu tạo Tâm, thì lại mang tính chất nhân bản. Ma Á Châu hay nhát người, điều này chứng tỏ một điều là Ma có cấu tạo tâm gần gũi với con người. Không chỉ thế, điều này còn cho thấy Ma chắc chắn phải có một dạng tế bào thần kinh gương, vì Ma dự đoán được là con người sẽ sợ khi bị nhát.

Nếu chúng ta coi Vi Diệu Pháp như một chủ thuyết, thì có lẽ đây là chủ thuyết duy nhất ngày hôm nay nhân loại có được, khả dĩ có thể giải thích các hiện tượng mà người ta gọi là: Vong Linh, Ma, người quá cố …

Xin phép được nhắc lại một lần nữa, có một tác giả của một tài liệu Cận Tử, được khắp thế giới biết đến nói rằng nếu chết là hết thì chẳng có gì đáng để nói cả, nhưng nếu ngược lại thì chúng ta sẽ thiệt thòi, vì chúng ta chẳng có sự chuẩn bị nào cả cho chính mình. Ai cũng biết đi chơi xa, lâu ngày, nếu chẳng có sự chuẩn bị nào cả, thì cuộc đi chơi đầy hứng thú sẽ biến thành thảm họa!

Sinh vật từ đơn bào (unicellular) đến đa bào (multicellular), nói theo kiểu Tôn Giáo thì có sanh ắt có diệt. Cát bụi tất nhiên phải trở về với cát bụi. Chính yếu tố “Đất” đã cho nó một hình thể (form) chỉ có tính chất tình thế tạm thời. Tôn Giáo khác thì có câu nói lừng danh: “cái gì của Caesar thì trả lại cho Caesar, cái gì của Thượng Đế trả lại cho Thượng Đế”. Trong tác phẩm “Nước Chúa”, một vị Thánh đã phát biểu rõ hơn nữa: “Đất nước tôi không phải ở thế gian này, mà thật ra là cuộc sống vĩnh hằng ở bên kia thế giới”.

Không ai muốn mình là người ngớ ngẩn. Do đó “thức thời chính là tuấn kiệt”; chúng ta nên chọn cho mình một cái chết khôn ngoan và có lợi nhất nếu có thể.

Bỏ qua những cái chết đột ngột, không bình thường. Chúng ta hãy hình dung một cái chết điển hình. Khi đường biểu diễn của các máy móc đo điện tim chỉ còn là đường thẳng song song với trục hoành, thì các bác sĩ không còn việc gì để làm nữa. Tất cả mọi thứ đối với chúng ta sẽ trở thành quá khứ. Giờ này chỉ còn mình ta đứng dưới mưa, người bạn không hẹn đã đến. Cơ đồ to lớn như Saddam, Gadaffi … lúc chết cũng chỉ có một mình! Chúng ta chỉ còn lại người bạn là nỗi cô đơn, lẻ loi, kinh hoàng, bối rối. Muốn trở lại thân xác vật lý, thì không thể thực hiện được, vì nó đã hư hỏng. Chúng ta chẳng có sự lựa chọn nào khác là đành “nhắm mắt đưa chân, để xem con tạo xoay vần đến đâu”! Cá nhân chúng ta, ngay cả đối với thân nhân thân thiết nhất, cũng sẽ chìm dần vào quên lãng. Tất cả chỉ còn là một kỷ niệm mơ hồ của quá khứ. Dù đó là Osama hay Obama … cũng đều bình đẳng trước Thần Chết, cũng như trước Thượng Đế.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Ông nói như là ông đã từng trải qua cái chết rồi vậy. Ông diễn tả phút giây từ giã cõi đời rất sống động và có vẻ rất thật nữa. Nhưng trên thực tế thì tôi nghĩ là kể cả ông và tôi đã chết hay Cận Tử bao giờ đâu mà biết lúc chết ra sao. Chẳng qua chỉ là mình đoán mò. Theo tôi thì mình không nên tự dọa mình để làm cho mình sợ. Ông có thái độ tích cực một chút đi. Tốt nhất là ông xem trong cuốn tạp thư có đưa ra kỹ thuật Xuất Hồn nào thực tế, cụ thể, đại chúng, rẻ tiền để con người có cơ hội đào thoát ra khỏi vương quốc của Thần Chết, tự mình dành lấy tự do.

- Ông Tổng Quản: Chắc chắn chúng ta không tìm được định nghĩa từ ngữ
Xuất Hồn là cái gì trong tự điển của bất cứ ngôn ngữ nào. Cuốn Tạp Thư lại đưa ra giả thuyết về từ ngữ Xuất Hồn như sau: Xuất Hồn: là cái Hồn và cái Tôi cùng ra đi một lúc, đến đâu đó, bỏ lại thân xác vật lý. Định nghĩa này có lẽ có một không hai, nhưng nó giúp chúng ta một cách tích cực trong thao tác Xuất Hồn.

Thật ra ai trong chúng ta cũng có kinh nghiệm về việc Xuất Hồn cũng như về cái chết; chỉ tại chúng ta không biết mà thôi. Chúng ta cũng chẳng tìm ra ai có kinh nghiệm để chỉ bảo về vấn đề này. Cuốn Tạp Thư có liệt kê một số hiệu ứng, tuy bề ngoài khác nhau, nhưng bản chất có thể nói là một.

A. Có lẽ hầu hết mọi người bình thường có giới tính rõ ràng thì vào một giai đoạn nào đó trong đời của mình, đã hoặc sẽ yêu ai đó với cường độ cao. Khi đường biểu diễn tình cảm ở giai đoạn đỉnh điểm, sẽ có một lúc nào đó, khi họ đang ở đâu đó, làm gì đó, nhưng thật sự họ mất hết ý thức về không gian thời gian hiện tại. Họ đang ở cạnh người mình yêu … Thế rồi, khi có ai đó gọi họ, họ giật mình như ở đâu mới về, sau đó từ từ ý thức lại hiện trạng thực tế. Theo quan điểm của Cuốn Tạp Thư, thì đây là một trường hợp Xuất Hồn ngẫu nhiên, Xuất Hồn hoàn hảo. Tại sao gọi là hoàn hảo? Gọi là hoàn hảo bởi lẽ, cái Tôi và Hồn cùng ra đi một lúc, cùng đến một nơi. Cơ thể vật lý hoàn toàn bị tách ra khỏi Hồn và cái Tôi. Thật vậy, ở trong trường hợp này, Hồn và cái Tôi đã có một sự kết hợp chặt chẽ, như là tan biến vào nhau, lệ thuộc vào nhau, tạo thành một thực thể nhất quán. Người có ý định tập Xuất Hồn, rất nên chú ý tới mô hình chuẩn, mà chính bản thân họ đã từng trải nghiệm.

B. Ai nằm ngủ cũng phải mơ, thậm chí đến thú vật cũng nằm mơ thì phải (bỏ qua khía cạnh giấc mơ được nhìn theo chiều hướng Phân Tâm Học). Ai cũng có những giấc mơ dài, rõ ràng như thật, nhiều tình tiết, diễn tiến phức tạp. Việc đó xảy ra ở một địa điểm cách xa cái giường chúng ta đang ngủ. Hồn và cái Tôi đã phản ứng một cách rất tự nhiên, độc lập một mình, không cần sự can thiệp của thân xác vật lý. Thật vậy, thân xác vật lý đang nằm ngủ, bất động trên cái giường, chẳng giúp gì được cho Hồn và cái Tôi. Chắc chắn ai cũng có thể nhớ, trong những giấc mơ mà mình từng trải qua, mình cần sự can thiệp của các cử động thuộc thân xác vật lý vì trong giấc mơ có thể xảy ra xô xát, chạy nhảy … Do không có thân xác vật lý, nên Hồn và cái Tôi rất l
úng túng, không thực hiện ý định của mình được. Điều này nếu quý vị nhớ lại thì sẽ thấy tính chất đặc trưng của Xuất Hồn, là Hồn và cái Tôi tan biến vào nhau tạo thành một Thực Thể nhất quán, hoàn toàn vắng bóng cơ thể vật lý. Đây cũng là một trường hợp Xuất Hồn mà ngẫu nhiên con người thực hiện được, nhưng không hiểu rõ tiến trình này là cái gì.

Theo huyền sử của trường phái Phật Giáo, thì như quý vị đã biết, khi cơ thể vật lý của Ngài Sakya Muni bị hư hỏng do độc tố của nấm, Ngài đã sử dụng kỹ thuật Thiền Định để bỏ lại cái xác vật lý. Kỹ thuật Thiền Định rất phổ biến lúc bấy giờ, người ta gọi là hậu Upanisad. Raja Yoga là một trong 6 trường phái lúc bấy giờ. Theo tài liệu của trường phái này thì họ rất chú trọng đến kỹ thuật Samyama. Kỹ thuật này gồm 3 giai đoạn: Dharana, Dhyana, Samadhi … Với kỹ thuật này người ta có thể ứng dụng vào rất nhiều công việc. Trong chương Thần Lực, dường như người ta cũng sử dụng kỹ thuật này để Xuất Hồn.

Ngày nay, vào kỷ nguyên chúng ta đang sống, lại có những hiện tượng trái ngược với thời kỳ hậu Upanisad. Một trường phái với hàng tỷ tín đồ trên thế giới, có một tài liệu chuyên ngành gọi là Thần Học, được biên soạn công phu để dùng làm giáo trình để giảng dạy cho những vị sau này sẽ là cán bộ khung của trường phái nói trên. Thiền Định đã được du nhập chính thức vào trường phái này qua tài liệu nói trên. Nội dung cũng như hình thức văn chương nói lên tính chất vô cùng hàn lâm, kinh viện và uyên bác, tinh vi đến từng chi tiết. Nói tóm lại không thể chê vào đâu được! Tuy nhiên, dưới con mắt của một người tu Thiền Định chuyên nghiệp, thực chứng, thì sẽ nhận ra tác giả của tài liệu này chỉ làm công việc sưu tầm tài liệu, nhưng thực tế không có kinh nghiệm về Thiền Định. Giảng dạy những điều chính mình chưa từng trải qua là phước hay là họa?

Về mặt tài liệu, có rất nhiều nhà Yogi ở Ấn Độ đã kể về các vị Chân Sư. Có những vị Chân Sư sau khi nói lời chia tay với những người quen biết, họ Nhập Định bỏ lại thân xác thế gian một cách bình thản.

Ở Việt Nam cách đây một vài thập kỷ, các chuyên gia Liên Xô có đến khảo cứu về nhục thể của hai vị Sư ở miền Bắc. Thân xác hai vị
Thiền Sư này lúc đó vẫn tồn tại và ở trong tư thế Thiền Định, dù phương tiện bảo quản thô sơ thủ công. Các chuyên gia Liên Xô có viết một bài báo với nhan đề: “Nụ cười an lạc”.

Nói tóm lại, dường như kỹ thuật Thiền Định thực sự là một công cụ hữu hiệu. Nếu biết sử dụng công cụ này, con người có thể bỏ lại thân xác thế gian và ra đi một cách bình thản, an lạc.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à, tôi có một thắc mắc. Ngày hôm nay trên thực tế, tôi thấy những vị nổi danh là đạo cao đức trọng, chẳng có ai sử dụng kỹ thuật Nhập Định để bỏ lại thân xác thế gian. Tôi có một chị bạn làm bác sĩ ở một bệnh viện lớn, kể cho tôi nghe chuyện này. Có một vị là đứng đầu ở một trường phái lớn ở Việt Nam, rất nổi danh, phải nhập viện vì nhồi máu cơ tim (Angine De Poitrine). Phút giây đối diện với bệnh tật, dường như ông quá sợ chết. Nỗi sợ này còn lớn hơn cả một người bình thường. Các bác sĩ chăm sóc nói đùa với nhau, chắc vị đó tiếc chiếc áo long bào (ám chỉ thân xác vật chất).

Câu chuyện này làm cho tôi hết sức hoang mang, mà phải nói đúng hơn làm cho cô bạn bác sĩ và tôi thất vọng. Những vị đạo cao như núi Thái Sơn, phước như Đông Hải mà còn như vậy, thì huống chi là mình, một Tam Tiểu Thư tầm thường, vô danh tiểu tốt … Với kinh nghiệm của một người làm nghề bảo tiêu, cuộc sống được thử thách trên đầu dao mũi kiếm, tôi có hai suy nghĩ, xin lỗi chẳng biết đúng hay sai, rất mong được quý độc giả hào phóng chỉ bảo.

* Một là, kỹ thuật Thiền Định chỉ là hữu danh vô thực, không thực sự có thực lực, chỉ là hư danh.

* Hai là, kỹ thuật Thiền Định là có thật, nhưng nói hơi duy tâm một tý, chẳng qua chỉ tại mình “phước mỏng, nghiệp dày“, nên gặp phải kỹ thuật Thiền Định thuộc về dạng hàng nhái, hàng dỏm … chưa có giấy kiểm định. Chẳng qua chỉ tại mình ham dễ, ham rẻ nên gặp phải loại Thiền Định … kém chất lượng.

- Ông Tổng Quản: Câu trả lời thật ra không phải là quá khó nếu chúng ta nhìn lại lịch sử phát triển của trường phái Phật Giáo tại Việt Nam. Nếu tôi không lầm thì nhóm CTR đã nhiều lần trình bày về vấn đề này nhằm phục vụ quý độc giả. Chúng ta có thể tóm lược ngắn gọn như sau: Hầu hết các cơ sở Tôn Giáo của trường phái Phật Giáo của Việt Nam ngày hôm nay, đều mang nặng màu sắc đặc thù của Trung Quốc. Các tài liệu của Trung Quốc có một lối trình bày rất Trung Quốc. Cái gì cũng nói hàng hai, mơ mơ, hồ hồ. Thí dụ “Sắc là Không, Không là Sắc”. Những đối thoại trong phim ảnh của Trung Quốc ngày hôm nay cũng chẳng khác xưa là bao. Chẳng hạn, một cô gái hỏi người yêu là “anh có yêu tôi không?” Câu trả lời: “yêu thì sao, không yêu thì sao?” Kiểu trả lời này có lẽ chỉ có ở người Trung Quốc. Tuệ Viễn là người Trung Quốc 100%. Ông chính là Kiến Trúc Sư, tác giả của trường phái Tịnh Độ quá phổ biến ở Việt Nam. Bốn cuốn kinh cơ bản của trường phái Tịnh Độ là do người Trung Quốc sáng tác. “Địa danh Tịnh Thổ”, dân gian Việt Nam gọi là cõi A Di đà là một tác phẩm thuần túy của Trung Quốc. Điều này có lẽ không còn gì để xét lại. Có một trường phái Thiền Định của Trung Quốc cũng rất phổ biến ở Việt Nam với phát biểu quá hấp dẫn: “Tiền niệm mê tức phàm, hậu niệm ngộ tức Phật” “Phút trước là con người bình thường, (nếu ngộ, là hiểu được sự thật) phút sau thành Phật”.

Tư tưởng này, cách tu Thiền Định này không thể tìm thấy trong những tài liệu khi Sakya Muni còn tại thế. Ai cũng biết bản thân của Sakya Muni, cũng phải học Thiền Định với các vị thầy lúc bất giờ. Ngài
Thiền Định dưới cây Bồ Đề, Thiền Định suốt cả đời mình trong mấy chục năm và … Thiền Định trước khi bỏ xác thế gian. Nếu so sánh với cách tập luyện của Sakya Muni, thì lối Thiền Định của người Trung Quốc được phổ biến ở Việt Nam, có thể mô tả là “Đại ngôn, lộng ngôn”!

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!