Pages

Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 28

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 28: Sự cần thiết phải có một lý thuyết,  
            một chủ thuyết nào đó, để làm nền tảng,
            chỗ dựa cho việc tập luyện để mở Con Mắt Thứ Ba.

            Những tài liệu Luận của Trường Phái Phật Giáo
            có thể đáp ứng được một phần nào yêu cầu nói trên.


- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản cho tôi hỏi chuyện này. Có lẽ chẳng phải một mình tôi, mà có nhiều quý độc giả, trong thời gian vừa qua, đã theo những bài viết của ông và thực hành. Riêng cá nhân tôi thì khi thực tập, cũng có ít nhiều kết quả, lúc thì tiêu cực lúc thì tích cực.

Tôi chẳng hiểu sao mặc dù việc tập luyện của tôi vẫn tích cực, đều đặn, nhưng hình như nó vẫn đứng ở một chỗ. Có cái gì đó làm cho nó không phát triển được, mà đôi khi dường như còn lùi lại nữa. Do không hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra nên trong lòng cảm thấy nghi ngờ. Suy cho cùng, hình như đây là một công việc làm không có nền móng vững chắc. Mỗi lần như vậy thì tôi lại đi tìm kiếm thêm thông tin. Thế nhưng những trở ngại khác lại đến. Thí dụ như cách trình bày của bài viết quá khó hiểu, các từ ngữ quá chuyên ngành. Công việc đã khó lại càng khó hơn. Vậy thực sự, để nâng cao chất lượng
Thiền tập và tạo được sự ổn định bền vững … tôi phải bắt đầu từ đâu? Tôi thiếu sót cái gì? ... Ông đừng để tôi phải ca bài "Tôi ơi đừng tuyệt vọng" nha ông!
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư ơi, những gì cô nhận xét có lẽ là chính xác; thế nhưng chuyện gì thì cũng có cách giải quyết.

Những bài viết trong năm vừa qua, nói tóm tắt thì có thể chia làm 2 phần:

1. Những khái niệm tổng quát về bộ môn Thiền Định.
2. Những khái niệm tổng quát của vấn đề Con Mắt Thứ 3.

Lịch sử khoa học cho chúng ta biết rằng bộ môn nào muốn tiến lên cũng cần phải xây dựng được một lý thuyết, ít nhất là giả thuyết. Nếu có được cả một chủ thuyết thì quá tốt. Phát minh khoa học thường có hai con đường kinh điển, một là quan sát các hiện tượng tự nhiên, tìm ra mối liên hệ, sau đó xây dựng lý thuyết. Hai là tiên đoán bằng lý thuyết, thí dụ như lý thuyết vũ trụ cong. Hầu hết những tiện ích mà hôm nay con người đang sử dụng cũng chính là nhờ người ta đã xây dựng thành công lý thuyết vật lý lượng tử. Ngược lại, những gì người ta chỉ biết về hiện tượng mà không xây dựng được lý thuyết, thì việc giải quyết trở nên lúng túng. Một thí dụ về vấn đề này là bệnh ung thư. Đó vẫn là căn bệnh chết người do người ta không biết cái gì gây ra nó nên không thể điều trị hiệu quả.

Quay lại vấn đề
Con Mắt Thứ 3 thì có lẽ cũng không là ngoại lệ. Ngoài một số tài liệu luận của Trường Phái Phật Giáo, chúng ta không tìm thấy trong lịch sử của nền văn minh nhân loại, tài liệu nào đã đề cập tới vấn đề Con Mắt Thứ 3. Trong thế kỷ 20 vừa qua, có lẽ duy nhất chỉ có một tác giả người Mỹ Barbara Ann Brennan có đề cập tới, dạy cách tập luyện để mở Con Mắt Thứ 3, trong tài liệu Bàn Tay Ánh Sáng đã được dịch ra Việt Ngữ. Tuy nhiên, có điều cần quan tâm, là dường như tác giả đã trình bày vấn đề này dưới nhãn quan của Trường Phái Kundalini Yoga. Quý độc giả nếu có hứng thú về đề tài này, xin vui lòng tham khảo tài liệu Bàn Tay Ánh Sáng.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản ơi, tôi đang cần lời khuyên thực tế. Tóm lại, tôi muốn tiến bộ thì phải làm sao? Ông còn nhớ, lúc trước ông bảo tôi muốn tiến bộ trong việc mở
Con Mắt Thứ 3, thì phải tập luyện Thiền Định. Thiền Định thì tôi đã tập rồi, đang tập. Hay dở thì chưa biết nhưng ngày nào cũng ráng tập … Tôi có cảm giác này nha ông, nói ra ông đừng buồn nhưng hình như những bài viết mà ông đã cung cấp kiến thức cho tôi và độc giả theo một tiến trình đi ngược. Đúng ra để giúp người ta dễ dàng tiến bộ, thì phải bắt đầu học và tập theo một hệ thống, một tiến trình thực sự giáo khoa; nghĩa là chúng ta phải học từ lý thuyết, hay nói đúng hơn là giả thuyết của bộ môn này. Sau đó tu Thiền Định thì mới có cơ may để mở Con Mắt Thứ 3. Dường như tiến trình này mới mang tính chất hợp lý và phù hợp với thực tế. Có vẻ ông thấy con người trong thời đại @ này ít có tính kiên nhẫn. Cái gì cũng muốn nhanh, gọn và có kết quả tức thì. Do ông sợ người ta nản nên mới trình bày cách đó. 
- Ông Tổng Quản: Sỡ dĩ tôi phải trình bày theo một lối không hợp lý này vì cũng có những lý do, khó nói ra được. Chúng ta thử quan sát một số đàm luận của quý độc giả. Mặc dù những ý kiến này vô cùng là ít ỏi nhưng đều cho đây là một lối trình bày lòng vòng, không đi vào chủ đề. Mong quý độc giả thử tham khảo những ý kiến chia xẻ của độc giả trên trang web của phattungaynay.net

- Tam Tiểu Thư: Mặc dù tôi đề nghị ông trình bày về lý thuyết tu thiền định, nhưng lòng tôi hơi nghi ngờ. Thật tình tôi chẳng thấy thiền định có lý thuyết gì ngoại trừ vi diệu pháp. Hồi đó tôi cũng từng có Thầy dạy tu Thiền, nhưng có lý thuyết nào đâu. Chẳng biết các Thầy khác có giống Thầy của tôi không. Cao lắm là họ đọc các vấn đề có sẵn trong kinh sách rồi triển khai ra dưới góc nhìn của họ. Ông thì sao? Ông có lý thuyết gì về vấn đề Thiền Định không?
 
- Ông Tổng Quản: Tiến trình của Thiền Định không phải được xây trong một sớm một chiều. Dường như nó đã được xây dựng qua nhiều ngàn năm. Điều này đã được trình bày trong nhiều bài viết trước. Tưởng cũng nên nhắc lại, Thiền Định không phải được tiên đoán bằng lý thuyết về sự hiện hữu của nó. Như tất cả mọi người đều biết, Thiền Định thực sự được xây dựng, xuất phát từ thực tiễn, rồi sau đó mới hình thành, các Trường Phái, các Lý Thuyết, kể cả những lý thuyết khá xa vời thực tế của người Trung Quốc, mà ngay hôm nay khá phổ biến tại Việt Nam.

"Tôi là ai?" là một câu hỏi hóc búa. Nó đã xuất hiện và đi cùng chiều dài của lịch sử. Nhiều bộ môn khoa học khác nhau đều nỗ lực đi tìm câu trả lời. Trong thế kỷ 20 với tài liệu "Con người bí ẩn" một vị bác sĩ đã cố gắng trả lời vấn đề tôi là ai. Từ thuở trước, có người cho là "tôi suy tư bởi vậy tôi hiện hữu", có người thì cho là "Con người là một cây sậy biết suy tư". Ai đi học cũng biết, bộ môn Siêu Hình Học được giảng dạy tại nhà trường. Bộ môn này cũng dạy kỹ lưỡng về 3 vấn đề: Tôi từ đâu đến đây, đến đây để làm gì và đi về đâu? ... Có một quan điểm về vấn đề này đã được đóng góp bởi một quý độc giả trên phattungaynay.net; thế nhưng có lẽ không đơn giản như vậy. Thật ra khi đề cập đến khái niệm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức … thì các tài liệu của Trường Phái Phật giáo cũng chẳng thống nhất với nhau. Dường như các Trường Phái mà chúng ta gọi là những Trường Phái Nguyên Thủy (chứ không phải là một Trường Phái Nguyên Thủy), thì dường như người ta mâu thuẫn với nhau một cách khá sâu sắc. Thực tế có Trường Phái thì công nhận có linh hồn, còn có Trường Phái khác thì lại cho rằng không có linh hồn. Do đó, chúng ta phải đưa ra một quan điểm có lẽ gọi là tổng hợp của nhiều Trường Phái.

Có thể con người là một tổng hợp của một số yếu tố được nêu ra sau đây:

1. Linh hồn được gọi dưới nhiều cái tên khác nhau: Luồng Tâm Thức, Linh Hồn, Chủ Nhân tạo ra các loại Nghiệp.

2. Có nhiều loại Nghiệp Lực. Xét ở nhiều góc cạnh khác nhau, các Nghiệp Lực này là Thiện hay không Thiện xét ở góc cạnh đạo đức; đưa tới Luân Hồi Sanh Tử, xét ở góc cạnh Luân Hồi Sanh Tử; có tạo ra Nghiệp hay không tạo ra Nghiệp, xét ở góc cạnh Vô nhân hay Hữu nhân …

3. Có rất nhiều yếu tố để tạo nên các dạng vật chất, không giống như quan điểm chúng ta vật chất chỉ có 4 dạng: ở thể đặc, thể lỏng, thể hơi, thể plasma. Có tài liệu cho rằng có tới mấy chục yếu tố để tạo ra vật chất.

4. Vấn đề Tâm: Cấu tạo này cũng được rất nhiều quý độc giả đóng góp trong các thảo luận. Tâm xét ở góc cạnh cấu tạo nên con người lại có một tính chất rất đặc thù. Người ta cho rằng theo những tài liệu của Trường Phái Phật Giáo thì số lượng Tâm rất lớn, chưa xác định được.

Hiện tại, chúng ta chưa có một tài liệu nào, để giúp cho người tu Thiền Định thực tế, giải quyết những vấn đề thực tế trong khi tu Thiền Định. Do đó, dù muốn hay không trước mắt chúng ta cũng phải sử dụng những tài liệu của Trường Phái Phật Giáo.

Trong tương lai, chúng tôi xin phép trình bày, một số vần đề cơ bản của kỹ thuật tu Thiền Định qua những tài liệu luận của Trường Phái Phật Giáo, thí dụ như: 


Tam Pháp Độ Luận
Thanh Tịnh Ðạo Luận,
Thắng Pháp Tập Yếu Luận.
 
(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!



Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 27

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 27: Con Mắt Thứ Ba dùng để làm gì?
             Tương lai của Con Mắt Thứ Ba.


Mùa xuân đang về:
Muôn hoa quả tưng bừng nảy nở
,
Muôn côn trùng hớn hở sinh sôi
,
Mưa xuân thấm ướt núi đồi
,
Lọc qua cát đá tuôn nguồn suối trong
.
Dòng suối lượn vòng quanh khe núi


Tam Tiểu Thư cùng Ông Tổng Quản rong ruổi không mỏi mệt, trên con đường thiên lý của công việc bảo tiêu.

- Tam Tiểu Thư: Tôi tập như vậy cũng gần được cả năm rồi, việc Định Tâm có lẽ cũng thuần thục hơn, đôi khi cũng thấy biết này kia, tôi thấy cũng hay hay. Tuy nhiên, tôi cũng thấy còn rất nhiều thắc mắc.

Tôi muốn nói ông nghe chuyện này.
Tôi không hiểu Con Mắt Thứ 3 thực sự dùng để làm gì. Nếu chỉ dùng để biết việc này việc kia, thì rõ ràng không đáng công để tập luyện. Hơn nữa, nếu tôi tập luyện để có thể biết quá khứ vị lai, thì căn cứ theo quan điểm của truyền thống Phật Giáo, dù có biết trước cũng chẳng giải quyết được gì. Vậy thì biết trước để làm gì chứ? Chắc ông còn nhớ, người ta thường bảo: "Thần Thông không liên quan gì đến Nhân Quả". Như vậy, có Đệ Tam Nhãn thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì cả. Tôi nghĩ chẳng qua việc này chỉ để thỏa mãn trí tò mò của con người. Đó là chưa kể là người có Đệ Tam Nhãn còn tăng trưởng tính kiêu căng tự ngã do nghĩ mình hay hơn người khác. Đúng là lợi bất cập hại!

Mặt khác, để mở được Con Mắt Thứ 3 cũng không phải là chuyện dễ dàng. Cá nhân tôi thì chưa thấy ai làm được. Tôi xem trên internet nhiều lắm rồi mà mà cũng chẳng hiểu
Con Mắt Thứ 3 là cái gì. Cho dù mở được Con Mắt Thứ 3, thì việc duy trì Con Mắt Thứ 3 nghe nói cũng phức tạp, khó khăn như bảo quản một bông hoa bằng pha lê đó ông.
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à! Chúng ta nói chuyện Duy Tâm một chút nhé. Dường như theo quan điểm của Trường Phái Phật Giáo, trăm chuyện hư hỏng cũng là do hiểu biết không đúng sự thật. Người ta gọi đó là Tà Kiến. Ngược lại, Chánh Kiến là hiểu biết đúng sự thật khách quan …

Ðể tồn tại thôi, chứ chưa nói tới phát triển; thì hầu hết các sinh vật đều phải tìm cách tự mò mẫm, hay do cha mẹ hướng dẫn, để biết hiểu về thế giới khách quan và thế giới chủ quan. Tất nhiên con người cũng vậy, xưa cũng như nay. Nhưng công việc tìm hiểu này, không phải luôn luôn dẫn tới thành công ở tất cả các lãnh vực. Lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng kiến thức của con người, ở một số lãnh vực nào đó, lại nghịch biến với thời gian. Đó đúng là một nghịch lý. Chỉ tính riêng trong lịch sử của loài người trong thế kỷ 20, đã có hai cuộc Đại Thế Chiến. Bước sang Thế Kỷ 21, bóng ma của Thế Chiến thứ ba vẫn bên cạnh lịch sử của con người, chỉ chờ đợi cơ hội thuận tiện là sẽ xuất hiện. Tất nhiên ai cũng có thể nhìn thấy được bản chất thực sự của các cuộc Thế Chiến trong Thế Kỷ 20 và hứa hẹn của đầu Thế Kỷ 21 là gì. Đó chẳng qua là do con người bất đồng ý kiến với nhau về quan điểm Thẩm Mỹ, Chính Trị học gọi là Chiến Tranh Ý Thức Hệ.

- Tam Tiểu Thư: Tôi nghĩ ông nói đúng. Các cuộc chiến tranh gần đây là bắt nguồn từ việc không thống nhất tư tưởng của con người. Ông nói kể ra rất hợp lý. Người thì bảo đi khai hóa, người thì bảo là thực dân, người thì quan niệm hạnh phúc phải như thế này, người khác thì lại cho rằng làm thế là vi phạm quyền sống của con người … Nói tóm lại, từ quan sát Thế Giới Khách Quan để hiểu biết về nó, người ta không thống nhất được với nhau về tính chất Thẩm Mỹ. Thế nên cuối cùng phải giải quyết với nhau bằng vũ lực. Kể ra, người xưa đã đặt ra vấn đề hiểu biết đúng sự thật không phải là dư thừa. Nhưng làm sao để chắc chắn là mình hiểu biết đúng sự thật Khách Quan? Từ thế giới Vi Mô cho đến Vĩ Mô, những thành quả hiểu biết của con người chỉ dẫn đến những câu hỏi mới. Vậy thì đâu là sự thật Khách Quan?
- Ông Tổng Quản: Ðúng vậy, đơn giản là người ta ai cũng cho là mình đúng, còn người khác là không đúng. Nhưng sự thật khách quan thì đối với một khoa học gia chân chánh, có một lương tri lành mạnh, chắc chắn không dám khẳng định bất cứ một cái gì. Thực tế, các Lý Thuyết Khoa Học chỉ là các Giả Thuyết.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Nếu biết như vậy tại sao con người không tìm cách chữa trị tận gốc? Việc này sẽ giúp con người thống nhất với nhau về các kiến thức của Thế Giới Khách Quan và Chủ Quan. Như vậy có phải đỡ khổ hơn không?
- Ông Tổng Quản: Nói thì dễ, nhưng ngay đến cả thế kỷ 21 này, với trình độ Khoa Học tiến bộ của ngày hôm nay, người ta vẫn không giải quyết được những vấn đề liên quan đến kiến thức, đến việc thống nhất với nhau về tư tưởng. Có lẽ điều này cũng sẽ không bao giờ làm được.

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, ít có ai đặt lại vấn đề những công cụ quan sát Chủ Quan của con người. Người ta cũng biết các công cụ quan sát của con người, kể cả Trí Tuệ là có tính chất giới hạn. Cho dù biết như vậy, nhưng tìm đâu ra một công cụ khác để thay thế những công cụ đang có của Khoa Học ngày hôm nay.

- Tam Tiểu Thư: Theo tôi nghĩ, để có một hiểu biết sát với sự thật hay đúng với sự thật, thì có lẽ Con Mắt Thứ 3 là một công cụ tuyệt vời. Nếu tất cả mọi người trên trái đất này, đều thấy được sự thật Khách Quan thì có lẽ không còn chiến tranh, hòa bình ấm no sẽ đến với mọi người. Con người sẽ tái lập Vườn Địa Đàng vào thuở bình minh của lịch sử nhân loại.
 
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à! Nếu hiểu Con Mắt Thứ Ba là một công cụ để quan sát Thế Giới Khách Quan cũng như Chủ Quan, khác với hai con mắt vật chất mà con người vốn có, thì nhân loại vẫn tiếp tục đánh nhau! Mà không chừng sự việc còn đáng e ngại hơn nữa đó. Cuộc chiến có thể còn dữ dội hơn trước, vũ khí còn tàn khốc hơn xưa.

- Tam Tiểu Thư: Trời! Ông nói như vậy là mâu thuẫn với chính mình rồi. Ông không sao chứ? Hình như sức khỏe của ông có vấn đề đó.

 - Ông Tổng Quản (mỉm cười): Tôi không sao đâu! Cám ơn cô! Tôi hiểu tại sao cô lại nghĩ như vậy. Có lẽ không phải mình cô mà quý độc giả, cũng có Vị sẽ nghĩ là Đệ Tam Nhãn đồng nghĩa với Sự Thật, với Chân Lý, với Chánh Kiến … nếu nói theo ngôn từ Phật Giáo.

Tôi xin giải thích cho cô cùng quý độc giả.

Ðối với đại đa số mọi người, ai đó có khả năng thấy biết cái gì đó khác lạ, không giống như bình thường … thì mặc nhiên người ta coi người đó là có Con Mắt Thứ Ba, hoặc nghĩ là được Trời, Phật, Thánh thần, ơn Trên … mách bảo. Với bản chất tâm lý tự ti vốn có của con người, người ta rất thích tin như vậy, ngay cả đối với giới trí thức. Sự thật có lẽ khác xa với điều mọi người mong đợi và có lẽ còn làm cho người ta thất vọng … Con Voi biết trước có sóng thần, nhiều loại Chó lông xù biết trước trời sẽ mưa … rất nhiều các sinh vật khác biết trước các hiện tượng tự nhiên mà một con người bình thường hoàn toàn bất lực. Con Dê biết trước trời sẽ mưa nhiều giờ đồng hồ. Những con vật này không hề tập luyện Đệ Tam Nhãn bao giờ cả. Con người cũng như một số thú vật đều có
Tế Bào Gương, nên đoán trước được hành động của một sinh vật khác. Chính vì lý do này hai người lái xe ngược chiều không đụng vào nhau. Nhưng khi sử dụng chất say, Tế Bào Gương bị mất đi khả năng vốn có của mình nên sanh ra tai nạn.

Những Thực Thể nói trên rõ ràng không liên quan gì đến việc tập luyện Đệ Tam Nhãn cả.

- Tam Tiểu Thư: Vậy thì theo ông Đệ Tam Nhãn là cái gì? Thực sự làm được việc gì? Thực sự giúp ích gì cho con người?

 - Ông Tổng Quản: Theo thông tin được ghi lại trên cuốn Tạp Thư, thì Đệ Tam Nhãn có thể được mô tả như thế này: Đó là một công cụ để tiếp nhận thế giới Khách Quan và Chủ Quan của riêng từng Thực Thể một. Nó lệ thuộc ở cấu tạo của mỗi Thực Thể một, cho dù họ sinh hoạt chung và cùng tồn tại trong một Cảnh Giới.

Chúng ta có thể đan cử một thí dụ cụ thể để cho dễ hiểu. Trong xã hội loài người, cùng là con người, nhưng từng cá thể lại có những công cụ khác nhau để tiếp nhận thế giới Khách Quan và Chủ Quan khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn nhau. Thực tế, ở những thế kỷ trước khi nền Y Khoa chưa tiến bộ, thì người ta cũng chẳng giải thích được tại sao cũng với hai con mắt vật chất mà người bị Cận Thị, Viễn
Thị, Loạn Thị lại có những cái nhìn khác nhau, khi nhìn vào đối tượng vật chất. Ngay cả ngày hôm nay, vẫn có người cho rằng bị sốt là do Ma Quỷ phá hoại!

Thực tế có lẽ không phải chỉ có 5 loại con Mắt như các tài liệu của Phật Giáo nói chung thường đề cập tới. Nếu mỗi cá thể ở các Cảnh Giới khác nhau, hoặc thậm chí ngay cả ở cùng một Cảnh Giới, đều có những cấu tạo mang tính chất hoàn toàn Chủ Quan, thì có lẽ sẽ có vô lượng loại Đệ Tam Nhãn.

Chúng ta mượn tạm lý thuyết của Trường Phái Phật Giáo để mô tả cấu tạo của một cá thể bất kỳ, ở một Cảnh Giới bất kỳ. Thực Thể là cấu tạo của Tâm, Sắc, Nghiệp Lực, cái Tôi (cái Tôi ở đây được hiểu là Luồng Tâm Thức, Nghiệp Lực, Chủ Thể, người chịu trách nhiệm về các công việc đã làm, sở hữu chủ của
Nghiệp Lực …). Cho dù các cá thể có giống nhau ở một vài khía cạnh nào đó, nhưng không thể nào tuyệt đối hoàn toàn giống nhau. Một bằng chứng khá cụ thể và thực tế là chúng ta không bao giờ thấy hai con người tuyệt đối giống nhau. Nếu chỉ tính tỉ lệ của quá nhiều yếu tố tham dự để cấu tạo nên một cá thể, thì tỉ lệ của các yếu tố này cũng thay đổi từng giây, từng phút. Khoa học hiện đại cho là tính chất không đồng nhất của thời gian, không gian thì mọi vật phải biến đổi: Xung lực, đẳng hướng, năng lượng.

Nếu hiểu như vậy, thì không thể nào có 5 loại nhãn, mà phải bảo là có vô lượng, vô số Con Mắt Thứ Ba.

Tất cả chúng ta đều có đọc về truyền thuyết của các dân tộc. Văn hóa của Trung Quốc có tài liệu Phong Thần, Bát Tiên. Người Tây Phương với các truyền thuyết của Hy Lạp và La Mã. Dường như theo các truyền thuyết này, thì các Thần Linh còn hay đánh nhau hơn cả con người. Do đó, chúng ta có thể đưa đến một kết luận là Đệ Tam Nhãn hiểu theo nghĩa chung chung, hoàn toàn không đồng nghĩa với Chân Lý. Có lẽ chỉ khi tập luyện được Phật Nhãn theo truyền thống Phật Giáo, thì lúc đó chiến tranh mới chấm dứt. Chỉ có Phật Nhãn là hiểu được Sự Thật Khách Quan.
 

- Tam Tiểu Thư: Cuốn Tạp Thư của ông kể ra cũng có nhiều thông tin có một không hai. Tuy nhiên, theo tôi, lối trình bày không biết của ông, hay của cuốn Tạp Thư quá thiên vị Phật Giáo, mang nặng tính chất Chủ Nghĩa duy Phật Giáo, và tôi e là thiếu tính chất Khách Quan.
- Ông Tổng Quản: Ở một chừng mực nào đó, thì ý kiến của cô có phần là đúng đó. Tuy nhiên, xét ở bình diện khác thì chưa hoàn toàn chính xác. Tôi lấy thí dụ: nói đến sức hút của trái đất, của hai vật, thì thực sự chúng ta phải nghĩ tới định luật tương tác hấp dẫn, tất nhiên chúng ta phải liên tưởng ngay tới Newton … Nói tới Hạ Nguyên Tử, nói tới Vật Lý Lượng Tử, chúng ta nghĩ tới Max Planck.

Vấn đề Đệ Tam Nhãn cũng vậy, hiện tại Nhân Loại chưa có một Giả Thuyết, một Lý Thuyết, một Chủ Thuyết nào cả về vấn đề này. Kể cả các tài liệu về Tôn Giáo, cũng không có tài liệu nào trình bày về vấn đề Đệ Tam Nhãn từ A đến Z. Có lẽ Trường Phái Phật Giáo là duy nhất, là có một vài tài liệu, được ghi chép một cách tỉ mỉ, từ lý thuyết đến thực hành, tiến trình trong việc mở Con Mắt Thứ 3. Chính vì lý do này, trong khi chưa có một lý thuyết mới nào có thể thay thế được Lý Thuyết của Trường Phái Phật G
iáo, thì chúng ta buộc lòng phải mượn tạm Lý Thuyết của Trường Phái này. Ðến ngày nào, nếu con người tìm ra được một Lý Thuyết tốt hơn của Trường Phái nói trên, thì dù muốn hay không, Lý Thuyết của trường phái Phật Giáo, chỉ còn mang tính chất lịch sử, dấu ấn của quá khứ.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Theo như lời ông nói, căn cứ vào thông tin của cuốn Tạp Thư, nếu có được Phật Nhãn, thì con người sẽ đạt được hiểu biết tuyệt đối về sự thật của thế giới tự nhiên. Nếu viễn vọng này là một sự thật của ngày mai, tương lai của loài người, thì chỉ còn một mình Tam Tiểu Thư này lẻ loi … và tất nhiên không lấy được chồng … Sài Gòn vắng người không còn kẹt xe, oxygen có thừa để thở, tầng Ozon không còn là một mối lo. Ông Tổng Quản à! Vậy thì trái đất dùng để làm gì? Tôi nhớ người ta thường gọi Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Nếu mai này Sài Gòn không còn người thì gọi là cái gì chứ? 

- Ông Tổng Quản: À! Ðể tôi xem lại thông tin của cuốn Tạp Thư nói thế nào nhé. Đây này cuốn Tạp Thư cho biết là có lẽ con người ta không nên lo lắng nếu xét trên thực tế.

Ðầu tiên, ngoài Lý Thuyết của Trường Phái Phật Giáo về vấn đề Đệ Tam Nhãn, thì cho đến ngày hôm nay, con người chưa hề xây dựng được một Lý Thuyết hoàn chỉnh. Thậm chí là khái niệm về Đệ Tam Nhãn còn chưa có. Tệ hơn thế nữa, người ta còn không biết Đệ Tam Nhãn có thật hay không. Nói một cách khác, người ta hoàn toàn mù tịt về vấn đề này. Cũng có người thì cho là đó chỉ là những phản ứng sinh, lý, hóa, điện … Nhưng sự thật Đệ Tam Nhãn là cái gì thì không ai trả lời được cả. Người ta vẫn sử dụng những công cụ kinh điển để tìm cái không hình, không ảnh. Thí dụ: Tâm, Nghiệp Lực … tất nhiên ai cũng biết, nhưng những công cụ nói trên không thể nào tương thích được những đối tượng mà người ta đang khảo cứu. Mặt khác, tìm đâu ra người thực sự có Đệ Tam Nhãn, làm sao phân biệt được Đệ Tam Nhãn thực sự và
Đệ Tam Nhãn giả tạo. Theo tài liệu Cuốn Tạp Thư, thì ai muốn khảo cứu về vấn đề này, người đó phải có khả năng Nhập Định. Nhập Định là yếu tố Ắt Có và Đủ. Nhưng trên thực tế, dường như không có khoa học gia dương đại nào có khả năng Nhập Định thực sự. Nếu tu Thiền Định theo kiểu các chương trình ti vi hướng dẫn, thì nói theo kiểu Trung Quốc, chỉ là “Cưỡi Ngựa xem hoa”.

Đặt giả thuyết là Khoa Học hiện đại, có một ngày nào đó đột biến tìm ra được một lý thuyết, một chủ thuyết thực sự về vấn đề Đệ Tam Nhãn; thì việc tập luyện mở
Đệ Tam Nhãn cũng là cả một vấn đề. Chúng ta nhớ lại người Trung Quốc thường nói “Non sông dễ đổi, bản tánh khó dời”! Do đó, để thay đổi cấu tạo Tâm của một cá nhân bất kỳ nào đó là một việc vô cùng khó khăn. Buông thả trong các thú vui thì không cần phải học, nhưng tập cái gì đó có tính cách chính quy cũng phải mất cả đời người dù bất cứ ở lãnh vực nào. Thế nên Tam Tiểu Thư ơi, cô hãy yên tâm về âu lo của cô! Sài Gòn chỉ đông thêm, kẹt xe thêm chứ không bớt đâu. Chúng ta hãy để cho trí tưởng tượng làm việc nhé: ngày đó Sài Gòn có một trường chuyên nghiệp nhà nghề để dạy mở Con Mắt Thứ 3, giữa Quận 5 và Quận 1 và quảng cáo dạy miễn phí … cũng chưa chắc đã có ai đăng ký theo học. Con Mắt Thứ 3 và những thú vui thế gian như rượu bia, Nam Nữ, ca hát, chơi bài, sử dụng chất gây nghiện … cái nào chiếm ưu thế? Thực tế chính quyền các nước sử dụng tới hình thức án tử hình cho việc sử dụng buôn bán thuốc phiện, nhưng người ta vẫn làm đó thôi.

Do đó, nếu ai âu lo về tai họa của Đệ Tam Nhãn, thì có thể yên tâm lâu dài.

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!




Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 26

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 26: Ðối Thoại của Ông Tổng Quản & Độc Giả - Phần 2

             - Tình Dục, Giấc Mơ, Bảo Vệ & Phản Biện.
             - Ðọc Kinh & Trì Chú: Thực sự có Chân Ngôn hay không?
             - Vấn đề giữ Giới.


- Cô Tâm Như: Ông Tổng Quản ơi, tôi nghĩ rằng bản năng tình dục thì cũng giống như những bản năng khác thôi. Thí dụ như đói thì cần phải ăn chứ. Nếu đói mà không ăn thì sẽ chết đói. Chuyện tình dục thì cũng thế thôi. Tình dục đúng nghĩa thì nó là sự thăng hoa của tình yêu mà. Nhân gian thường cho là: “Sống mà không có Tình Yêu thì như Chết mà biết Thở.” Nhà thơ Xuân Diệu cũng nói rằng:

Làm sao sống được mà không Yêu,
Không nhớ, không thương một kẻ nào?"

Tôi nghĩ ông thì trí tuệ cũng hơi bị nhiều, vậy ông có ý kiến gì không? Đừng nói với tôi là nên sống một mình, hoặc cứ sống 2 mình nhưng phải dẹp tình dục qua một bên nha ông. Tôi thì rất thích Tu Thiền Định, nhưng vấn đề là làm cách nào để dập tắt được bản năng này chứ?

- Ông Tổng Quản: Thế này cô nhé, để tránh thái độ chủ quan, chủ nghĩa duy tiêu cực, thì thiết nghĩ rằng nếu chúng ta đã đề cập đến Bản Năng Tình Dục và Giấc Mơ ở góc cạnh tiêu cực, thì nay chúng ta cũng thử đề cập đến góc cạnh tích cực, của hai đề tài nói trên. Cô đồng ý không?

- Cô Tâm Như: Ông Tổng Quản à! Ông có lầm không vậy? Tôi tuy chẳng thâm sâu gì Phật Giáo, nhưng khi đề cập tới giới của Phật Giáo, thì người ta thường hiểu như là mình không nên có những hành động liên quan đến: Sát, Đạo, Dâm … Còn chuyện Giấc Mơ thì ít khi nào có Giấc Mơ đẹp. Phần lớn các Giấc Mơ là vô nghĩa hoặc rất dễ sợ … Nói cách khác là Ác Mộng đó ông.
- Ông Tổng Quản: Có lẽ chính vì hầu hết mọi người, ai cũng nghĩ như cô vừa nói xong; do đó tưởng không phải là thừa, nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu nhiều hơn, để có được cái hiểu biết đúng đắn hơn, rất có lợi cho tâm lý mình khi Tu Thiền Định. Chính vì không hiểu rõ nên mình luôn luôn tự trách mình. Chúng ta hay tự trách mình là tại sao tôi lại tồi tệ, xấu xa như thế này? Hoặc tại sao khi người khác tu thì họ rất thanh cao thánh thiện, còn tôi duy nhất là người tội lỗi … nên mình phát sinh mặc cảm tự ti.

Thưa cô Tâm Như!

Tôi muốn cô hiểu được rằng những thành quả vĩ đại, về vật chất cũng như tinh thần mà con người đã đạt được qua chiều dài của lịch sử, là hệ quả của bản năng tình dục được thăng hoa. Khoa Tâm Lý học cho biết hầu hết các nhà bác học, các nghệ sĩ … đều có bản năng tình dục mạnh hơn người thường rất nhiều. Đúng ra phải nói rằng nếu không có tình dục thì sẽ chẳng có gì cả: Nghệ thuật, phát minh … thậm chí không có cả lịch sử con người; vì con người có tồn tại đâu mà có lịch sử. Nói một cách khác, lịch sử con người là con số không nếu không có bản năng tình dục.

Không ai dám khẳng định là con người xuất hiện bắt đầu ở đâu và từ lúc nào trên trái đất này. Nhân chủng học thì cho rằng dường như con người xuất hiện lần đầu tiên ở lục địa Phi Châu; còn theo Kinh Thánh, thì Adam và Eva xuất hiện ở vườn Địa Đàng … Thế nhưng tất cả chỉ là giả thuyết.

- Cô Tâm Như: Ông Tổng Quản ơi, vậy là ông không biết rồi. Tôi nghe nói là con Người tiến lên từ loài Khỉ đó ông ơi. Mỗi lần đi chơi trong khu du lịch Sinh Thái, tôi hay tranh thủ ngắm nhìn mấy con Khỉ và tự hỏi rằng không biết đến thời gian nào thì con những con Khỉ này sẽ tiến lên thành Người đó ông. Mà cũng kỳ lạ thật đó, dường như con Khỉ ngày xưa mới biến thành người được, còn con Khỉ ngày nay chắc không biến ra người được nữa thì phải.
- Ông Tổng Quản: Đúng rồi, thuyết Tiến Hóa thì cho biết con người tiến lên từ loài Linh Trưởng. Tuy nhiên, thuyết này càng ngày càng bộc lộ những yếu kém. Mẹ ruột của lý thuyết Tiến Hóa từng nói “Con có thể là con của loài Khỉ, nhưng Mẹ thì không”. Tài liệu Missing Link đã tiết lộ, chiếc răng mà người ta cho là của một sinh vật đang tiến hóa, giữa Người và Khỉ là ngụy tạo. Chính nhà bác học, tác giả của công trình này đã thú nhận như vậy! Ðến ngày hôm nay, ngoài suy luận bằng lý thuyết thì chẳng có một chứng cứ cụ thể nào, có thể bảo đảm là loài Khỉ là tổ tiên của con người. Chẳng cần phải có một kiến thức quá ư là hàn lâm về Nhân Chủng Học, cô vẫn nhận ra điều này: Nếu lý thuyết Tiến Hóa về tiến trình của con người là đúng, thì chúng ta đã không tìm thấy trong lịch sử cũng như ở hiện tại này, một không gian nào đó, có những tổ tiên loài người đang tiến hóa. Nói cách khác là có một sinh vật nào đó, đang ở trạng thái giữa Người và Khỉ.

- Cô Tâm Như: Chắc ông nói đúng đó. Chính xác nhất thì con người đẻ ra con người. Hành động giao phối; một biểu hiện cụ thể của bản năng tình dục, là hành động cần thiết để xã hội loài người nói riêng và đa số sinh vật nói chung trên hành tinh này tồn tại và phát triển.
- Ông Tổng Quản: Nếu việc giao phối không đưa lại khoái cảm lớn lao, xét về mặt bản năng như là một mục đích, thì chưa chắc sinh vật nào lại chấp nhận việc giao phối, con người cũng chẳng ngoại lệ. Có lẽ nếu có một Thượng Ðế, thì ngài đã phải suy tư mất nhiều ngày nhiều đêm, để tạo ra bản năng này, tạo ra động cơ để con người chấp nhận giao phối.

Chúng ta thử hình dung, nếu một ngày nào đó, Thượng Ðế vì một lý do chủ quan hay khách quan, thí dụ như Thượng Ðế thấy các bệnh truyền nhiễm không thể kiểm soát được, thuốc điều trị HIV Truvada không hiệu quả như lúc thử nghiệm … thì Ngài buộc lòng phải tước đoạt bản năng tình dục của con người. Hệ quả thật tai hại khôn lường. Thiếu tuyến nội tiết của giống đực hoặc giống cái, con người uể oải, yếu đuối, tinh thần cũng như vật chất chẳng muốn làm gì cả … Thế nên việc giao phối chỉ còn là kỷ niệm của dĩ vãng, được người ta kể cho nhau nghe trong tiếc nuối! con người già đi … trẻ em không được sanh ra, bệnh viện Phụ sản Từ Dũ đương nhiên là phải đóng cửa. Bác sĩ, y tá thất nghiệp, các hoạt động xã hội chậm lại từ từ, không điện, không nước, không thực phẩm, không giao thông, xã hội từ từ tê liệt. Thượng Ðế hoặc ai đó có một lương tri lành mạnh, có lẽ không bao giờ mong muốn một kịch bản của xã hội loài người như mô tả ở trên.

Có lẽ nhân loại nên cám ơn Thượng Ðế, đã ban tặng cho con người một quà tặng thật quý giá, đó là bản năng tình dục.

- Cô Tâm Như: Nãy giờ nghe ông nói, tôi thấy cái nhìn của ông có vẻ chịu chơi so với các Thiền Sư khác. Ít có người thầy dạy Tu Thiền chịu nói thẳng thắn về vấn đề này lắm. Theo ý kiến của ông thì bản năng tình dục xấu hay tốt? Chúng ta phải hiểu thế nào về bản năng tình dục?
- Ông Tổng Quản: Có lẽ bản năng tình dục, bản chất chẳng xấu cũng chẳng tốt, mà lệ thuộc ở con người có lương tri, tri thức luận lành mạnh để sử dụng nó. Chắc mọi người còn nhớ, có một tài liệu đã được in tại Việt Nam có nhan đề “Tu mau kẻo trễ”. Ta thử hình dung, một xã hội mà tất cả mọi người đều đi Tu thì xã hội đó sẽ ra sao?

Những tiện ích xã hội: Giao thông vận tải, điện, nước, thực phẩm … nói tóm lại là những nhu yếu phẩm, ai sẽ đứng ra đảm trách? Có một tài liệu thống kê đã đưa ra một xếp hạng từ cao đến thấp về mức độ làm lợi ích cho xã hội. Bảng thống kê này sắp xếp như sau: Sĩ quan quân đội, cảnh sát, điều dưỡng viên … là những người có lợi cho xã hội nhất và đứng đầu bảng. Ngược lại, thầy tu và những cô gái hoạt động trong ngành công nghiệp tình dục là những người không có lợi cho xã hội nhất, được sắp ở thứ hạng 27. Thông tin này chỉ mang tính chất thông tin thuần túy, không có ý định đề cao hay phản bác ai đó.

- Cô Tâm Như: Tôi nghe ông nói, có lẽ cũng giải tỏa được một phần lớn những mặc cảm, những tự ti không có thật. Tôi cảm thấy yên tâm nhiều hơn trên con đường tu đạo. À Ông Tổng Quản ơi! Theo như lời ông nói, thì Giấc Mơ cũng có mặt tích cực của nó, ông có thể trình bày cho tôi nghe được không?
- Ông Tổng Quản: Bình thường ai cũng phải sinh hoạt trong một xã hội nào đó, kể cả người tu. Và xã hội nào cũng có những chuẩn mực quy ước do con người đặt ra hoặc tự hình thành. Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, nên ý thức của tất cả mọi người chỉ chấp nhận, tiếp nhận một số hiện tượng khách quan mà mình cho là phù hợp. Nó chỉ đi vào khu vực ý thức khi đã được kiểm duyệt, dù trong lúc tỉnh hay trong giấc mơ, nên mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người vẫn thành công trong việc ngăn trở, không cho “những sức mạnh vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện. Chính vì lý do này, những hiện tượng khách quan không được ý thức chấp nhận, trở thành những kẻ vô gia cư, lang thang không biết đi về đâu. Nó phải tự tìm ra một con đường, là đi vào căn phòng kế bên vô ý thức, sống ở đó ngoài vòng kiểm soát của ý thức. Nhưng cư dân ở vô ý thức một ngày một đông, tạo ra áp lực dân số, những cuộc tranh chấp nội tâm, bản chất của sự dồn nén. Ai đó không thể giải quyết được nạn nhân mãn này, thì có thể từ thác loạn tâm lý cho đến trở thành điên. Thượng Ðế cũng khá tinh vi và cẩn thận, đã trang bị cho khu vực này một bộ phận tự xả an toàn, công cụ đó chính là: Giấc Mơ. Theo Phân Tâm Học, Giấc Mơ là một công cụ cần thiết để giải thoát ẩn ức, nếu không có công cụ này thì con người không thể chịu đựng được, khi dồn nén vượt qua một giới hạn nào đó.

Lại một lần nữa chúng ta nên cám ơn Thượng Ðế, đã ban cho chúng ta một công cụ, khả năng nằm mơ.

- Cô Tâm Như: Mỗi ngày tôi Trì Chú Đại Bi 108 biến, khi rảnh tôi xem giáo lý Phật giáo, khi đi tập thể dục hay đi chợ tôi luôn niệm ADIDAPHAT hoặc Trì Chú trong Tâm. Phần này nhờ ông Tổng Quản chỉ dạy thêm, bởi khi tôi Trì Chú hay niệm Phật thì Tâm tôi Thanh Tịnh hơn nhiều so với trước khi Thiền Định. Nhưng theo ông Tổng quản nói là thời Đức Phật không có Tụng Kinh Trì Chú ... vậy thời nay mình có thể làm vậy không? Khi tôi nhổ cỏ thì Tâm tôi đặt nghi vấn: "nó cũng là một chúng sanh, nó cũng có sự sống, vậy thì tôi có sát sinh một sinh linh nhỏ bé không?". Tôi Trì Chú Đại Bi cho các chú Sâu bé nhỏ và các chú Ốc Bưu ... nghe. Không hiểu sao khi tôi muốn mở miệng nói chuyện gì, tôi luôn nói chuyện tốt, lúc đó tôi cũng chưa rõ đó là Bát Chánh Đạo. Tôi nghe hầu hết các bài giảng của Hòa Thượng Tuyên Hóa, càng nghe tôi càng thấm thía, càng thấm nhuần trong Tâm trí tôi, tôi càng thương cho các bạn đồng cảnh ngộ với tôi, vì nơi tôi ở chỉ là tiếng hoa (Taiwan), và bấy giờ đa số họ không biết xử dụng vi tính nên tôi phát Tâm in ấn sách, đĩa CD, VCD mong tất cả các bạn ấy được nghe thấy. Hầu như tất cả mọi nơi đều có sách Phật Giáo bằng tiếng Việt gần nơi tôi cư ngụ, sau đó tôi làm Blog và phát triển phổ biến Giáo Pháp Phật. Sau này mới biết "tu là phải có phương pháp tu, tu cho chính mình, chứ không phải chạy lòng vòng bên ngoài, đó chỉ là lót đường cho việc tu sau này thôi, không phải là giải thoát sanh tử"!

- Ông Tổng Quản: Cô Tâm Như à! Một con người bình thường như cô, như tôi, như quý độc giả, chẳng có ai bẩm sinh là chuyên viên, chuyên gia về bất cứ lãnh vực nào cả. Thật vậy, nếu có khả năng gì hơn người, thì người ta đã gọi là thần đồng … Tuy nhiên, các khảo cứu cho thấy, hy vọng của con người vào thần đồng sẽ có những phát minh có lợi cho nhân loại, là việc không có thực.

Lần đầu tiên tiếp cận với bộ môn nào đó, tất cả chúng ta chỉ là một A ma tơ (Amateur) … vì vậy chúng ta lầm lẫn đủ thứ từ việc chọn môn học ở Ðại Học, chọn mua một cái xe, chọn một cô vợ, một ông chồng … Đối với Tôn Giáo cũng chẳng ngoại lệ. Việc này lại càng nổi bật khi chúng ta tiếp cận với Phật Giáo. Khi có cơ hội nào đó lần đầu tiên trong đời, cầm một tài liệu liên quan tới Phật Giáo, chúng ta mang tâm trạng trân trọng, cho đó là một cuốn kinh, vì thực sự chúng ta cũng chẳng hiểu các tài liệu của Phật Giáo được phân chia hay xếp loại thế nào! Ðối với đại đa số mọi người, cái gì chúng ta cũng gọi là Kinh sách. Ðại thụ Phật Giáo to lớn hơn ta tưởng rất nhiều, không ai dám nói rằng mình đã đọc hết những tài liệu của Phật Giáo. Kể cả đối với một Chuyên Gia, cũng khó phân biệt đâu là Chân Kinh, đâu là Ngụy Kinh! Tài liệu nào khi đọc chúng ta cũng thấy là Phật nói như thế này, nói như thế kia … Tất nhiên với lối viết như vậy chẳng ai dám bình luận gì cả; nhưng thực sự có phải lời của Phật nói hay không thì chẳng ai biết. Các tác giả của các tài liệu này là “Chân Tiểu Nhân hay Ngụy Quân Tử”? Cô Tâm Như cũng như quý độc giả, không ai có thể trả lời được.

Như những bài viết trước của nhóm CTR, những biến thể của đạo Phật bên Trung Quốc không thể kể hết, số tài liệu chồng chéo, Thiên Kinh vạn quyển. Có thể nói những tư tưởng của Phật Giáo rất phổ thông ở tại Việt Nam ngày hôm nay đều bắt nguồn ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc là chính. Một tài liệu có thể gọi là nền móng của Phật Giáo Đại Thừa là “Ðại Thừa Khởi Tín Luận”, không biết có quá đáng hay không, nếu người ta nói rằng tài liệu này mang đầy màu sắc, tính chất điển hình Trung Quốc. Nổi bật nhất là cách trình bày một vấn đề gì đều nói hàng hai. Xin mời cô Tâm Như và quý độc giả tham khảo.

Cuốn Tạp Thư có kể đến ở tại Việt Nam, có một vị đã viết một cuốn Kinh A Di Ðà, nói theo kiểu báo chí “chuyện khó tin mà có thật”. Vị đó còn đặt tên con của mình là tên của các vị Phật!

Tôi xin đóng góp ý kiến để cô Tâm Như tham khảo. Trong lá thư chia sẻ, cô có đề cập đến: “Phật giáo gọi là tinh khí thần bị suy”. Thưa cô, cùng quý độc giả, đây có thể một trường hợp điển hình của tư tưởng Phật Qiáo Trung Quốc: Luyện Tinh thành Khí, luyện Khí thành Thần. Khái niệm này có thể là một khái niệm dân gian của xã hội Trung Quốc. Cũng rất có thể bắt nguồn từ tư tưởng Đạo Đức Kinh của Lão Tử “Ðạo sanh ra vạn vật, vạn vật ôm khí âm, cõng khí dương”. Sau đó tư tưởng này lại được Việt Nam hóa một lần nữa, người ta quen gọi là lối tu luyện của Đạo Gia. Chúng ta có thể khẳng định rằng khái niệm Tinh Khí Thần hoàn toàn xa lạ với Phật Giáo Nguyên Thủy.

Tất nhiên qua tiến trình của lịch sử, sự thay đổi của địa lý, Phật Giáo cũng phải biến thể để sinh tồn, đó là quy luật khách quan của bất cứ Tôn Giáo nào.

Tôn Giáo nói chung, Phật Giáo nói riêng, hay bị lợi dụng như một liều thuốc phiện xét ở mặt tiêu cực (ai cũng biết mocphin được sử dụng một cách tích cực cho người bị ung thư ở giai đoạn cuối). Thần quyền và thế quyền lẫn lộn trong đời sống chính trị, mượn đạo tạo đời là hiện tượng bình thường của cuộc sống thường ngày. Ðơn giản mà nói, lợi dụng Tôn Giáo, Tín Tâm của các Tín Đồ, với mục đích mưu lợi cá nhân: Tiền tài, của cải vật chất, danh vọng, tình dục … thời đại lịch sử nào cũng có, ở đâu cũng có.

- Cô Tâm Như: Cám ơn Ông đã đóng góp một số ý kiến, làm cho tôi vỡ lẽ hiểu ra một số mặt trái. Ðúng rồi! Tôi không phải là người duy nhất, cũng không phải là người đầu tiên và dĩ nhiên chẳng phải là người cuối cùng đụng phải những rắc rối này. Còn vấn đề Tụng Kinh Trì Chú thì sao ông?
- Ông Tổng Quản: Rất mong cô Tâm Như cũng như quý độc giả, nếu quý vị có thời gian, xin vui lòng hãy đọc lại những bài viết trước của nhóm CTR, đã từng đề cập, tuy không trực tiếp, nhưng khá tỉ mỉ về vấn đề này.

Có lẽ mọi người ít nhất cũng đồng ý với nhau một vấn đề sau đây: Khi Sakya Muni tại thế, thì chỉ có một Sakya Muni, không hề có một vị thứ hai. Sakya Muni là tác giả, là người đã khai sinh, là kiến trúc sư của Trường Phái Phật Giáo. Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Giới, Định, Huệ … là tác phẩm riêng của Sakya Muni, không có ai cộng tác với Sakya Muni trong việc phát hiện các phát biểu nói trên.

Sakya Muni chỉ có tu Thiền Định suốt cả cuộc đời, thậm chí đến lúc chết. Theo truyền thuyết thì Ngài cũng Nhập Định, không có tài liệu nào cho biết là Sakya Muni đã Tụng Kinh Trì Chú …

Dù có thái độ bi quan nhất, thì người ta cũng cho là dường như có một vị Sakya Muni, đã sáng tác ra một hệ thống tư tưởng mà người thế gian sau này gọi là Phật Giáo. Xét ở góc cạnh Học Thuật, gọi Trường Phái này là một Tôn Giáo thì e là không chính xác, vì Phật Giáo không có giáo điều nào cả.

Có nhiều người cho là lời nói của Phật là Chân Ngôn, là Kinh, là Sự Thật vĩnh cửu. Cái khó cho chúng ta là làm sao biết được chắc chắn là lời nói đó của Phật? Vì sự việc đã xảy ra cách đây nhiều ngàn năm rồi. Các Chuyên Gia cũng chẳng thống nhất với nhau là Sakya Muni thời gian đó nói bằng ngôn ngữ nào. Nhiều trăm năm sau, những tài liệu này lại được dịch qua quá nhiều thứ tiếng, trước khi dịch ra tiếng Việt Nam. Nếu hiểu lịch sử như thế, ai dám khẳng định những lời mà người ta cho rằng đó là lời của Phật nói, có đáng tin cậy hay không? Cũng cần phải ghi nhận thêm, ở tại Ấn Ðộ người ta không ghi lại lịch sử - như quý vị cũng biết - nhiều trăm năm sau không có chữ viết. Ðiều này lại càng làm cho chúng ta e ngại về tính chất trung thực của lời Phật nói.

Hãy thử nhìn vào vấn đề ngôn ngữ của xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây, có nhiều từ ngữ đã hoàn toàn biến mất, cũng có những từ ngữ hoàn toàn mới. Như vậy việc trôi qua nhiều ngàn năm, ai dám khẳng định là lời nói nào đó là đích thực của Sakya Muni? Do đó nếu cho là, những lời Phật nói là: Chân Ngôn, Kinh … có đáng tin cậy hay không?

Mời cô Tâm Như cùng quý độc giả tham gia ý kiến.

Cô Tâm Như à! Có lẽ chúng ta nên đặt ra một số vấn đề:

Việc cho lời nói thực sự 100% là của Phật thì nên cân nhắc lại. Nếu không phải là lời nói của Phật thực sự 100%, thì việc gọi là Chân Ngôn, lời nói của Sự Thật, cần phải suy nghĩ lại.
Nếu chúng ta bỏ qua khái niệm tính xác thực về lời nói của Phật, mà chỉ dùng những lời nói này là một Đối Tượng để Quán Tưởng, thì vấn đề lại hoàn toàn khác. Thật vậy, chúng ta có thể xây dựng lên một đối tượng bất kỳ nào đó, với những cấu tạo Tâm là Thiện Tâm, mang tính chất Phật Tính, thì hoàn toàn thuận lợi.
Tụng Niệm Trì Chú với hiểu biết Chân Chánh, thì chúng ta đã tạo dựng được một Mandala. Vô tình chúng ta đã sử dụng cách tu tập của các tu sĩ Tây Tạng. Mandala là một sáng tác của con người, nếu người Trung Quốc đã làm ra sẵn, thì chúng ta chỉ việc sử dụng, đỡ mất công để sáng tác ra Đàn Pháp.

- Cô Tâm Như: Lúc bấy giờ tôi giữ giới tuyệt vời, dù trong mơ có thấy sinh vật bé tí tôi cũng nhặt mang đi phóng sanh, có khi thấy trong mơ ăn thịt chúng sinh, khi tỉnh dậy lòng buồn vời vợi và luôn tự trách mình. Tôi tu tại gia nhưng cũng có người này người kia mang đồ cho (giống Cúng Dường vậy), nhưng trong thâm Tâm tôi nghĩ: "bản thân cần làm Phước nhiều hơn, sao lại nhận của người khác? Tiêu Phước thì hết Phước, nhưng ngặt nỗi đó là do người ta cảm thấy mến mình, nên tặng cho mình nào tiền của vật chất, ... nhưng tôi sợ nhận của lắm, tôi gởi cả về VN làm Phước dùm họ (in ấn sách Phật Giáo, Kinh điển ...).

Cũng thời gian này, khi tôi nhìn vào không gian thì thấy những hạt li ti màu trắng sau này mới biết đó là hạt Hằng Sa, nhìn vào ngọn lửa của cây đèn cầy thì thấy có một hình vòng tròn dạng elip, trong cái elip đó có một tu sĩ đầu trọc, nhưng bây giờ không có những hiện tượng đó nữa.


- Ông Tổng Quản: Về vấn đề Giới là gì, giữ Giới ra sao, nếu Cô Tâm Như cũng như quý độc giả có hứng thú, xin vui lòng tham khảo tài liệu “Thanh Tịnh Đạo Luận”, của tác giả Buddhaghosa được viết khoảng một ngàn năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Về vấn đề Giới, cuốn Tạp Thư lại có những thông tin khá khác biệt. Theo tài liệu này thì Giới bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tế tu Thiền Định của người tu Thiền Thực Chứng, bất cứ là ai, ở đâu, vào thời điểm nào … đều chứng được các Cảnh Giới. Do chứng nghiệm thực tế về các Cảnh Giới, người tu Thiền mới đưa ra các Giới.

Nguồn gốc của Giới là gì? Chúng ta biết rằng các Cảnh Giới bất kỳ có những hành vi, ứng xử, phong tục, tập quán, lề lối sinh hoạt đặc trưng của Cảnh Giới đó. Lấy thí dụ cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc. Ở cảnh giới này không có Bản Tánh Sắc (không có giới tính là Nam hay Nữ). Do đó, nếu người tu Thiền Định, có ý định tương ứng với cảnh giới Sơ Thiền Hữu Sắc, thì phải tập cách sinh hoạt của Cảnh Giới này, là không có Bản Tánh Sắc, quan hệ Nam Nữ phải chấm dứt.

Tại cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc, các Thực Thể không phải ăn uống để sinh tồn. Khái niệm về "Đoàn Thực" không giống như cảnh Dục Giới chúng ta. Mạng Căn của Cảnh Giới này là cái vui chứ không phải là thực phẩm. Do đó ở cảnh giới này không có miệng và mũi để hấp thụ dưỡng chất, là đồ ăn và không khí. Muốn tương thích với cảnh giới này, thì phải bỏ việc ăn thịt, uống rượu. Việc ăn thịt, uống rượu là bình thường của cảnh thế gian Dục Giới, nhưng ngược lại với cách sinh hoạt ở cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc.

Mặt khác, việc ăn uống rượu thịt không tương thích với cấu tạo Tâm của cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc, chứ chưa nói tới những Cảnh Giới cao hơn nữa. Sát sanh là do Tâm ThamTâm Sân, có cơ sởTâm Si, câu hữu với tà kiến, là hiểu sự việc không đúng với sự thật. Những Tâm vừa kể trên, là những Bất Thiện Tâm hoàn toàn không tương thích không phù hợp với cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc. Sơ Thiền Hữu Sắc được cấu tạo bởi những Tâm Thiền Thiện Tâm. Do đó, nếu cho rằng uống rượu, ăn thịt và sát sanh … mà đắc được Sơ Thiền Hữu Sắc, là hoàn toàn phi lý với quan điểm của Phật Giáo.

Giới quyền lợi tối thượng của người tu Thiền Định.

Chúng ta không thể có hạnh phúc trên sự đau đớn của các Chúng Sanh khác do bị sát hại. Chúng ta không thể nhân danh bất cứ cái gì - nhất là Đạo Đức - để giết hại các Chúng Sanh. Ðây là quan điểm của một số Tôn Giáo có thể là lạc hậu, với tục lệ dùng các Sinh Vật như Của Lễ để Tế Thần.

Có lẽ thà là Chân Tiểu Nhân", còn hơn là "Ngụy Quân Tử.

- Cô Tâm Như: Chắc tôi cần rất nhiều thời gian để suy nghĩ về những điều ông nói, các thông tin từ cuốn Tạp Thư của ông.

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!



Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 25

Có một không hai - có hai chết liền ...

Lời thưa
Chân thành cảm ơn độc giả Tâm Như đã tin cậy và chia sẻ nhật ký tu tập của bạn với CTR blog. Sau vài ngày lục lọi trong cuốn Tạp thư, CTR phát hiện được đoạn đối thoại sau đây. Xin mời bạn
Tâm Như cùng quí độc giả thân mến của trang blog cùng theo dõi.

Tập 25: Tình Dục Giấc Mơ: Đối Thoại giữa 
             Ông Tổng Quản và một quý độc giả của CTRBlog 


- Cô Tâm Như: Sự việc xảy ra là lúc tôi vào thời học sinh. Tôi không tin trên đời này có ma nhưng lại tin có Phật, có Bồ Tát, v.v... và tôi đã bị một Vong Nam theo tôi trong suốt quãng thời gian không ngắn, bởi tôi chỉ nói đùa một câu tưởng như khơng có gì, nhưng nó làm tôi phải chật vật trong nhiều năm, và cũng nhờ đó mà tôi tìm hiểu về tâm linh, rồi tu hành. Một lần lên mộ của Bà tôi, tôi phát ngôn với một thanh niên chết trẻ ở mộ cạnh bên: "Sao anh chết trẻ vậy, nếu không tôi đã thương anh rồi!. Từ đó về, đêm tôi luôn bị bóng đè mỗi khi ngủ. Rồi về sau, tôi vừa chợp mắt thì cái bóng đã đè, nên tôi càng mệt hơn, điển hình là con mắt tôi thâm đen hơn vì thiếu ngủ và Phật Giáo gọi là Tinh Khí Thần bị suy. Những lần như thế trong giấc mơ tơi bị dẫn đi nhiều nơi rất đáng sợ và hầu như bị hãm hiếp, bị trêu cợt trong cái dâm đãng, ... lúc đó tôi chỉ cầu cứu QTABT cứu khổ cứu nạn, thì Ngài thị hiện trong mơ và tôi tỉnh dậy với mồ hôi nhễu nhão, mệt lã.

Thưa các bạn, tôi đang hành Bát Chánh Đạo nên những gì tôi viết trên đây là Chánh Ngữ, xin các bạn đọc giả dùng Chánh Kiến để xem, thành thật cám ơn!

- Ông Tổng Quản: Trước nhất, tôi nghĩ là nhiều người phải cảm ơn cô, ít nhất trong trường hợp này, vì cô đã vận dụng Bát Chánh Đạo hơi bị đúng đấy. Cô Tâm Như à, cô không phải là người duy nhất, cũng không phải người đầu tiên hoặc người cuối cùng, ở vào trạng thái “Thân phận con người” (Condition Humaine). Thật vậy, nếu giả định là có một vị Thượng Ðế đã tạo dựng ra loài người, thì rõ ràng Ngài đã rộng lượng khuyến mãi kèm vào đó bản năng tình dục! Khoa học có thể khẳng định rằng tất cả 60, 70 tỷ nhân loại đã và đang hiện hữu trên trái đất này đều xuất phát từ bản năng tình dục. Có lẽ chỉ có một ngoại lệ duy nhất, là trường hợp của Adam và Eva.

Ðứng ở góc cạnh sinh học, tuyệt đại đa số con người có giới tính rõ ràng là Nam hoặc Nữ. Chỉ có một số nhỏ là đồng tình luyến ái. Trước đây, vào tiền bán thế kỷ thứ 20, người ta cho là những người đồng tình luyến ái là sự suy đồi của bản năng tình dục. Từ hậu bán thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21, người ta đã có cái nhìn khác về vấn đề này, không còn coi đó là sự xuống cấp của tình dục, mà chỉ là một hiện tượng khách quan tự nhiên. Tuy vậy, vì nhiều lý do khác nhau nên người ta vẫn chưa thể thống nhất ý kiến với nhau.

Ðây là một đề tài thuộc vào loại cực kỳ nhạy cảm đối với người Á Ðông nói chung và Việt Nam nói riêng. Như mọi người đều biết, nhân sinh quan của Khổng Tử với mục đích tái lập trật tự xã hội lúc trước, nay đã ăn sâu vào tâm tư của nhiều quốc gia chịu ít nhiều ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc (tất nhiên phải kể có Việt Nam). Người ta thường nhân danh đạo đức, nhân danh những gì thuộc về phong tục tập quán, truyền thống tốt đẹp. Với những lý lẽ như thế này, thì chẳng ai dám chống đối. Vấn đề tình dục cũng như mại dâm, bị loại ra khỏi văn hóa của một xã hội nào đó. Mại dâm bị luật pháp cấm đoán, tình dục không ai dám nhắc nhở tới. Nhưng trên thực tế thì bức tranh lý tưởng mà con người vẽ ra trở thành không tưởng. Người ta còn nhớ trong các cuộc chiến tranh, các đội quân viễn chinh của các nước lớn đều có dự kiến đến việc giải quyết bản năng tình dục cho quân đội. Cụ thể là một số nước nêu tên sau đây: Pháp, Quân đội của Tưởng Giới Thạch ... Chắc nhiều quí vị còn nhớ những tên như là: Thiên đường tại thế, Những cô gái ra trận (Borden Militaire En Campagne).

Có những công cuộc khảo cứu gần đây được thực hiện ở Sài Gòn, tại 3, 4 địa điểm khác nhau cho ra những kết quả có lẽ đáng tin cậy. Các cô gái làm những công việc nói trên là hoàn toàn tự nguyện. Chắc chắn phát hiện này đã đi ngược lại với quan điểm xã hội, thường cho là các cô gái bị dụ dỗ hay bị ép buộc. Tác giả của công cuộc khảo cứu còn cho biết những nhân vật tú bà, má mì, hình như không hiện hữu trên thực tế.

Thiết nghĩ kết quả cuộc khảo cứu này, cần phải làm cho người ta nghĩ lại về vấn đề mại dâm. Nếu kiểm soát được, thì ít nhất về mặt y tế cũng được đảm bảo. Còn nếu tự lừa dối mình, lừa dối xã hội với nhãn hiệu đạo đức thì mang lại phản tác dụng, thực tế nhất là không thể kiểm soát được bệnh truyền nhiễm lây lan qua đường tình dục.

Với sự dè dặt của một nhà khoa học, tác giả của nghiên cứu trên cũng có lưu ý rằng đây chỉ là một công cuộc khảo cứu nhỏ bé. Tác giả không hề có ý định khuyến khích việc mại dâm ở bất cứ đâu và vào bất cứ thời điểm nào.

Thực trạng này là một thực tế không thể phủ nhận được. Có lẽ chúng ta chỉ còn tự an ủi:


Ðã mang lấy nghiệp vào thân,
Cũng đừng lẫn trách trời gần, trời xa …”

- Tâm Như: Thật ra trước nay tôi rất thích tu tập. Tôi chỉ lo đọc Kinh Trì Chú, Niệm Phật A di đà, lúc được lúc không, lúc thăng lúc trầm. Khi đụng chuyện như vậy, tôi nghĩ những trở ngại nói trên, chỉ mang tính chất cá biệt. Tôi cảm thấy buồn khổ do mình không may nên gặp như thế này. Nhân tiện đây tôi hỏi luôn, không biết Ma có giới tính hay không ông?
- Ông Tổng Quản: Theo thông tin của cuốn Tạp Thư, thì đây là một vấn đề mang tính chất toàn cầu, không phân biệt không gian và thời gian. Đã mang thân phận con người, chẳng phân biệt là Nam hay Nữ, thậm chí không kể tuổi tác, chúng ta đều mang áp lực bẩm sinh của bản năng tình dục.

Cô may mắn có những đức tính cần thiết của một người tu như can đảm dám nói lên sự thật; thông minh, chính xác khi trình bày các ý nghĩ. Trong tinh thần xây dựng, tôi xin đóng góp, trước nhất là vấn đề Ma có giới tính hay không; và vấn đề thứ 2 liên quan đến bản năng tình dục của con người.

- Tâm Như: Ok! Thanks! ... Xin mời ông tiếp tục.
- Ông Tổng Quản: Cuốn Tạp Thư, có những thông tin như sau về giới tính của Ma. Việc đầu tiên chúng ta phải quy ước với nhau là có Ma (mình cần quy ước vậy vì cũng có những người cho là không có Ma).

Rất nhiều người tu Thiền gặp các Thực Thể ở các Cảnh Giới khác nhau. Việc đặt tên các Thực Thể này là gì thì tùy theo tín ngưỡng, phong tục tập quán. Qua phương tiện internet ngày nay, thì ai cũng được nhìn thấy các dạng Ma khác nhau ở trên khắp thế giới qua kỹ thuật đồ họa, photoshop. Thật hay giả … thì tùy theo nhận xét của từng cá nhân.

Về mặt lý thuyết, nếu chúng ta căn cứ vào Thắng Pháp Tập Yếu Luận và coi đó như một tài liệu, thì có rất nhiều Cảnh Giới. Nếu tính từ cảnh thấp nhất cho đến Cảnh Thiên Dục Giới, thì các Thực Thể ở những Cảnh Giới này có giới tính là Nam hoặc Nữ. Thuật ngữ của tài liệu này gọi là Bản Tánh Sắc, có nghĩa là Nam hay Nữ. Từ ngữ này quý độc giả không thể tìm thấy trong cuộc sống đời thường.

Còn Ma thực sự có giới tính hay không, thì chỉ có Ma mới có thể xác nhận được. Việc quan hệ tình dục giữa người thế gian, có thể là Nam hay Nữ, với Ma là một việc khá phổ thông, thậm chí còn sanh con. Nhưng việc này không có chứng cớ (Evidence) nên người ta cũng chẳng biết tính làm sao.

- Tâm Như: Cũng giống như Tam Tiểu Thư, tôi không ngờ và khá ngạc nhiên về những thông tin “tạp nhạp” của cuốn Tạp Thư, không có bìa, không có nhà xuất bản, không có tác giả, mà ông đã mua ở chợ trời hay đâu đó. Không chừng ông lại đi thỉnh cuốn này từ Cảnh Giới nào khác cũng không biết được. Cuốn Tạp Thư này có vẻ có nhiều thông tin về đủ các mặt. Nhờ vậy cũng làm cho tôi được giải tỏa một số thắc mắc, mà lâu nay không biết hỏi ai. Ít nhất tôi vỡ lẽ ra một vấn đề là tôi không phải là người đầu tiên, cũng chẳng phải là người cuối cùng có những rắc rối tôi đang gặp phải.
- Ông Tổng Quản: Thật ra từ trước tới nay, đề tài này đã được nhóm CTR trình bày rất nhiều lần, nhưng có lẽ quá tản mạn, khó nhớ. Nhân cơ hội trao đổi cùng cô, cũng là cơ hội để tôi trình bày đề tài này cặn kẽ hơn, chi tiết hơn.

- Tâm Như: Như ông biết đấy tôi vất vả về vấn đề này nhiều năm rồi. Tôi là phái nữ nên chuyện càng trở nên nhạy cảm hơn. Trên báo chí hoặc trên internet thì có vô số mục như: “Nhỏ to tâm sự”, “Gỡ rối tơ lòng … thòng” gì đó, nhưng chẳng có nơi nào gỡ nổi những chuyện của tôi. Cuối cùng tôi phải nhờ Tạp Thư vậy.
- Ông Tổng Quản: Cô Tâm Như à! Cô thử xem những câu thơ sau đây, nói về sự vất vả của bản năng tình dục. Bản năng này dường như không phân biệt tuổi tác:

Có lão già sắp rinh xuống lỗ,
Gặp nái xề lớ quớ chân xiêu,
Trái tim khô cũng bèo nhèo,
Tình yêu như thể con diều gặp giông! ...”


Ở viện dưỡng lão, người ta yêu nhau và lấy nhau cũng là chuyện thường tình.

Bản năng bảo tồn là bản năng cực kỳ quan trọng. Nhờ có nó, mà các sinh vật có thể tồn tại. Con người cũng không ngoại lệ. Vậy mà trong đời sống hoang dã, để giành quyền giao phối với con cái, hai con vật có thể đánh nhau tới chết.

Cô Tâm Như à, cuốn Tạp Thư có nhắc chúng ta một bộ môn mà chúng ta từng học ở nhà trường, nhưng có lẽ hầu hết chúng ta đều quên hết cả rồi. Bộ môn này gọi là Phân Tâm Học. Phân Tâm Học có rất nhiều hệ phái, nhiều tác giả không thể kể hết. Trong phạm vi bài này, chúng ta chỉ kể một tác giả mà thôi, tác giả Sigmund Freud. Có lẽ quí vị còn nhớ ông là cha đẻ của bộ môn này. Rất mong quí độc giả rộng lượng, không cầu toàn ở bất cứ một lý thuyết khoa học nào, cho dù đó là lý thuyết của thiên tài Sigmund Freud. Sự hoàn hảo có lẽ chỉ hiện hữu ở Thượng Ðế.

Cuốn Tạp Thư có tóm tắt sơ lược một số khái niệm cơ bản của bộ môn nói trên:

- Nguyên lý khoái cảm (Principe Du Plaisir): Ðây là một nguyên lý cơ bản của bộ máy tâm lý con người. Con người luôn có khuynh hướng tìm kiếm sự kích thích khoái cảm và tránh né đau khổ. Nếu chúng ta quy ước chấp nhận tiên đề nói trên, chúng ta hãy quan sát chính mình: Đói, khát, nhu cầu nghỉ ngơi, thỏa mãn tình dục … sẽ tạo ra cho chúng ta một trạng thái căng thẳng dữ dội, khi những nhu cầu này vượt qua một giới hạn nào đó (thí dụ khi đói quá người ta dám ăn cả thịt người …). Trái lại, khi những nhu cầu nói trên được thỏa mãn, nó đem lại cho người ta một cảm giác khoái cảm.

- Lý thuyết bản năng (La Theories Des Instints): Lý thuyết bản năng là một lý thuyết đứng đầu. Đó là một khái niệm cơ bản, tuy nó mơ hồ nhưng mang tính chất quy ước. Nó là một sức mạnh lâu dài, bền bỉ và người ta không thể né tránh. Người ta có thể trốn tránh ánh sáng nhưng người ta không thể trốn tránh cảm giác đói, khát, tình dục ... Người ta cho rằng sự thúc dục nội tại này mang tính chất bản năng. Bản năng này là một tổng lực của những năng lượng. Nó tự tạo ra một con đường, hướng về một mục tiêu nhất định. Theo Freud, bản năng là một ý niệm giữa tinh thần và vật chất.

Bản năng tình dục có thể ở hai trạng thái khác nhau: Chủ động và bị động. Người thích nhìn (Voyeurs) người khác khỏa thân để thỏa mãn bản năng tình dục. Ngược lại, người thích khỏa thân (Exhibitionnistes) cho người khác nhìn để thỏa mãn bản năng nói trên.

Tình dục có thể được thăng hoa (Sublimé) hoặc bị dồn nén (Refoulé). Một khi được thăng hoa, bản năng tình dục thường được di chuyển đến các mục đích khác: Từ thiện xã hội, nghệ thuật, thể thao, âm nhạc …

La Libido

Libido được coi là cơn đói. Đó chính là ngôn từ của Freud. Vẫn theo Freud, Libido đồng nghĩa với tình dục. Nó chính là năng lượng tổng quát của bản năng tình dục. Libido là một năng lượng đặt biệt, có khuynh hướng đi tìm sự khoái cảm.

Lý thuyết về sự dồn nén (La Theorie Du Refoulement)

Theo Freud, sự dồn nén là nền móng của bộ môn phân tâm học. Nguyên lý của sự dồn nén là, ý thức con người bình thường không chấp nhận một số yếu tố nào đó không phù hợp với mình. Nhưng vấn đề là những yếu tố này lại là thực trạng khách quan của thế giới tự nhiên; trong khi ý thức thì lại không chấp nhận cho nó bước vào con người. Chẳng hạn như khi người ta đi tu và không được sinh hoạt tình dục, thì ý muốn về tình dục này nó phải đi đâu? Cách duy nhất là những yếu tố này phải di chuyển đến trú ngụ ở căn phòng vô ý thức, vì căn phòng ý thức không chấp nhận nó. Tiến trình này xảy ra liên tục không ngưng nghỉ. Nó tiêu tốn rất nhiều năng lượng của một cá nhân. Nếu việc dồn nén được chấm dứt, thì sẽ tiết kiệm được một số lớn năng lượng.

Sự dồn nén sản sinh ra một cuộc tranh chấp của khát vọng, tham vọng đối nghịch nhau. Ðặt biệt là khát vọng tình dục, đối nghịch với những giá trị thẩm mỹ, đạo đức, phong tục, tập quán, tôn giáo … Những khát vọng, những tham vọng bị đẩy ra khỏi khu vực ý thức và rơi vào quên lãng, và chúng ta cho rằng thế là giải quyết xong. Thực tế bộ máy tâm lý con người không đơn giản như vậy. Việc không tương thích giữa khát vọng tình dục và những rào cản ở trên, đã tạo ra sự dồn nén. Sự hiện diện của khát vọng thỏa mãn tình dục không được đáp ứng, không được thỏa mãn, tạo ra một nỗi đau dữ dội về tinh thần. Việc này có thể tạo những hệ quả phản ứng vật chất: Căng cơ, toát mồ hôi, tăng huyết áp.

Một khi việc dồn nén bị ngăn chặn một cách hoàn toàn, thì năng lượng tình dục là Libido, tích tụ trong một cá thể nào đó, phải tìm một con đường để thoát ra. Chính điều này tạo ra mặc cảm Oedipe (Complexe d’ Oedipe). Ðây chính là mặc cảm yêu mẹ, ghét cha, mặc cảm này bắt nguồn từ huyền thoại của Hy Lạp.

Lý thuyết về tình dục của trẻ nhỏ (La Theorie De La Sexualite Infantile)

Có thể Freud là người đầu tiên nói về tình dục của trẻ nhỏ. Tình dục của trẻ nhỏ đóng một vai trò quan trọng trong tiến trình của đời con người. Với ý định đánh giá về tính chính xác việc khảo cứu về đề tài này, thì có hai lý do để đưa đến thất bại. Một là những rào cản của quy ước xã hội, hai là rào cản của những điều bị cấm kị (Tabous). Freud cho là sai lầm nếu nghĩ là tình dục phát triển ở giai đoạn dậy thì. Trẻ em từ lúc mới sanh, đã có những thúc dục của tình dục, chúng đã mang theo bản năng tình dục khi đến trái đất này. Tình dục phát triển qua nhiều giai đoạn trong đời người.

+ Giai đoạn môi miệng (Oral)

Kinh nghiệm về tình dục đã xuất hiện, không phải ở giai đoạn trưởng thành, mà ở những thời gian đầu đời của đứa trẻ. Việc bú vú mẹ, là mong muốn tình dục đầu tiên của em bé sơ sinh. Trong khi bú sữa, đã hình thành sự diễn tả đầu tiên của bản năng tình dục. Việc bú sữa còn thỏa mãn một bản năng nữa là cái đói. Hành động bú mẹ tạo ra khoái cảm. Việc bú sữa mẹ là một mẫu thử nghiệm, về việc thỏa mãn của bản năng tình dục sau này. Miệng và môi của đứa nhỏ là vùng tạo ra khoái cảm tình dục (Zones Erogene).

+ Giai đoạn tự thỏa mãn tình dục (L’ autoerotisme).

Chẳng bao lâu những em bé sẽ thay thế vú mẹ, nguồn khoái cảm, bằng những phần chính trong cơ thể của mình. Thí dụ như ngón tay cái, lưỡi … tất cả những gì có thể tạo ra sự kích thích mạnh hơn. Khi đứa nhỏ tìm được trong chính cơ thể của mình, những đối tượng có giá trị về tình dục, chính là lúc những em bé thực hiện thỏa mãn tình dục một mình. Chẳng bao lâu sau, những em bé phát hiện ra việc đi vệ sinh cũng tạo ra khoái cảm.

+ Mặc cảm thiến hoạn (Le Complexe de Castration).

Trẻ nhỏ vào khoảng 3 tuổi, bộ phận sinh dục trở nên chủ động hơn. Có thể trong giai đoạn này, trẻ em đã thực hiện việc thủ dâm. Việc thường xảy ra là cha mẹ hoặc vú nuôi đã nhìn thấy hiện tượng này, thường đe dọa trẻ nhỏ là sẽ cắt đi bàn tay hoặc bộ phận sinh dục của chúng. Trẻ nhỏ cho là bộ phận sinh dục của con gái đã không hoàn chỉnh hoặc đã bị cắt đi, trẻ em trai tưởng tượng là mình có thể bị trừng phạt cắt đi bộ phận sinh dục. Mặc cảm thiến hoạn còn có thể bắt nguồn, từ việc tưởng nhớ đến những diễn tiến trong giai đoạn lịch sử xa xưa. Trẻ em gái cũng mong muốn có bộ phận sinh dục như bé trai, việc thiếu vắng bộ phận sinh dục này, đã tạo ra cho em bé gái một cảm giác lo âu, sợ hãi.

Sau giai đoạn này, là giai đoạn sinh hoạt của bộ phận sinh dục.

Ở đây chúng ta chỉ có thể trình bày, có lẽ những nét cơ bản nhất của bộ môn phân tâm học như: sự dồn nén, Libido … Đây chỉ là bức tranh phác họa, nhưng có lẽ cũng tạm đủ để hiểu được chính mình, ít nhiều giải thoát được những ẩn ức, những mặc cảm, những âu lo …

- Tâm Như: Tôi bị ma khảo trong lúc đang ngủ như sau:
1. Một cảnh tượng hiện ra là có một người muốn cùng tôi giao hợp, tôi liền xòe hai chân ra và nói "lại đi", thì đột nhiên tiếng chuông reo đồng hồ báo thức, đúng 6g sáng.
2. Cũng giống lần thứ nhất, nhưng lần này tôi từ chối vì làm vậy (lúc đó tôi ngủ ở phòng thờ Phật và QTABT) không được tôn kính vì nơi đây là nơi thờ phụng, hiện tượng liền biến mất.
3. Trong phòng ngủ của tôi, cũng có người đòi quan hệ với tôi, có một cảm giác rờ từ âm hộ cho tôi hưng phấn và khi tôi nhận ra thì tôi bảo "không được, tôi không thể, bởi vì nếu còn dâm dục thì tôi không thể ra khỏi tam giới", thế là liền biến mất trong tích tắc.

- Ông Tổng Quản: Có quan điểm thường cho là, giấc mơ chẳng có ý nghĩa gì cả, nó không có thực, phi lý, mâu thuẫn. Nó từ chối thực tại. Giấc mơ mang chúng ta đến với thế giới tăm tối của ma quỷ, tinh thần con người thoát ra khỏi thực tại, tiến vào lâu đài của sự dục vọng hay sự khủng khiếp.

Về vấn đề này, Freud có thể là người đầu tiên, đã đưa ra một khái niệm mang tính chất đột phá. Ông cho là một số dục vọng, những dục vọng vô kỷ luật, đã lén lút vượt qua luật lệ của những dục vọng thượng đẳng thuộc một tri thức luận lành mạnh. Chính tại đây, con thú thèm thịt và khát nước đã xâm nhập vào con người chúng ta, làm lung lay sự thanh bình của giấc ngủ, con thú đi tìm những gì để thỏa mãn bản năng man rợ của mình. Một khi đã lao mình vào trí tưởng tượng, thì những liên tưởng tự do không giới hạn này nó không hề lùi bước, dù đó là mẹ ruột của mình, một người lạ mặt, một người đàn ông nào đó, một vị thần hay một con dã thú hung dữ. Nó không lùi bước trước cả rào cản là trái cấm, tội ác. Nói tóm lại, nó đang tiến bước trên con đường của sự hổ thẹn và điên dại.

Giấc mơ có một cấu trúc tâm lý, có ý nghĩa thực sự, nếu người ta biết sử dụng một số nguyên tắc tâm lý để giải thích. Nói một cách khác, những giấc mơ có thể coi là những triệu chứng, để giúp chúng ta có thể hiểu được của những bệnh tâm lý.

Giấc mơ chỉ là phòng khách của một tòa nhà. Ở những căn phòng đằng sau, nó ẩn chứa những tư tưởng âm ỉ, những thúc dục của vô thức, đang tìm cách để đạt được sự thỏa mãn; những thúc dục mang tính chất của bản năng. Ðó là sự kích thích nội tại được tạo ra do áp lực của bản năng. Nói một cách khác, những thúc dục đã cung cấp năng lượng cần thiết cho giấc mơ. Nhưng những thúc dục này, dưới hình thức của các dục vọng, thường vướng vào rào cản của những đòi hỏi đạo đức. Mặc dù những rào cản này trong giấc mơ có phần giảm đi, nhưng không bị xóa bỏ. Nó vẫn đóng vai trò của một người kiểm duyệt. Nó cấm cản những thúc dục vô thức được diễn tả một cách tự do. Những tư tưởng và những dục vọng trong giấc mơ, đã được làm dịu bớt, mất đi sức mạnh ban đầu. Giấc mơ đối với người trưởng thành là sự hiện diện của việc thỏa mãn đã được cải trang của một khát vọng bị dồn nén nào đó.

Ngôn ngữ của giấc mơ thường mơ hồ, mang tính chất tượng hình vì lý do đòi hỏi của đạo đức, thẩm mỹ. Những tư tưởng thường đã biến dạng, được làm dịu bớt. Tiến trình để biến cải chính là công việc làm của giấc mơ. Công việc làm của giấc mơ là giả trang những tư tưởng âm ỉ thành những hình thức khác nhau. Bản năng tình dục không được thỏa mãn là một trong những thúc dục quan trọng bậc nhất của giấc mơ.

Có lẽ đến đây, là đã đến những giới hạn của bộ môn Phân Tâm Học. Tuy nhiên, chúng ta cũng nhìn ra những đột phá, mà từ trước tới nay, chưa ai quan tâm tới.

Bộ môn tiếp theo, Vi Diệu Pháp có thể là sự nối dài của Phân Tâm Học. Ðịnh luật Tương Ưng của Trường Phái Phật Giáo, đã được CTR nhiều lần nhắc tới trong rất nhiều bài viết. Chính việc cấu tạo Tâm của một ai đó, tương thích với một Thực Thể nào đó, ở một cảnh giới bất kỳ, đã tạo ra những sự việc mà được cô kể tới.

Nhưng một khi cô thay đổi cấu tạo Tâm, bằng cách Tụng Kinh Niệm Phật, thì Vong Linh nói trên không còn tương ưng nữa. Chính vì lý do này mà các Vong Linh phải bỏ ra đi.

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR



Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!



Lá thư từ độc giả 2

Kính thưa quí độc giả,
Được sự đồng ý của bạn Tâm Như, nhóm CTR lại xin được gởi đến quý độc giả những chia sẻ thật chân tình của bạn ấy về việc tu tập của mình, mà cô ước mong các bạn đi sau có thể tránh được những lỗi lầm không cần thiết, để tiến bước lẹ hơn trong quá trình Tu Thiền Định, Nhập Định và xa hơn nữa v.v... 

 .·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Nhân duyên tu tập của Tâm Như ...

Thưa các bạn, tôi đang hành Bát Chánh Đạo nên những gì tôi viết dưới đây là Chánh Ngữ, xin các bạn đọc giả dùng Chánh Kiến để xem, thành thật cám ơn!

Lý do tôi bắt đầu tập tành tìm hiểu tu là do một nguyên nhân và bắt chước Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát (QTABT).

Sự việc xảy ra là lúc tôi vào thời học sinh, tôi không tin trên đời này có ma nhưng lại tin có Phật, có Bồ Tát, v.v... và tôi đã bị một Vong Nam theo tôi trong suốt quãng thời gian không ngắn, bởi tôi chỉ nói đùa một câu tưởng như không có gì, nhưng nó làm tôi phải cật vật trong nhiều năm, và cũng nhờ đó mà tôi tìm hiểu về tâm linh, rồi tu hành. Một lần lên mộ của Bà tôi, tôi phát ngôn với một thanh niên chết trẻ ở mộ cạnh bên: "Sao anh chết trẻ vậy, nếu không tôi đã thương anh rồi!". Từ đó về, đêm tôi luôn bị bóng đè mỗi khi ngủ, rồi về sau, tôi vừa chợp mắt thì cái bóng đã đè, nên tôi càng mệt hơn, điển hình là con mắt tôi thâm đen hơn vì thiếu ngủ và Phật Giáo gọi là Tinh Khí Thần bị suy. Những lần như thế trong giấc mơ tôi bị dẫn đi nhiều nơi rất đáng sợ và hầu như bị hãm hiếp, bị trêu cợt trong cái dâm đãng, ... lúc đó tôi chỉ cầu cứu QTABT cứu khổ cứu nạn, thì Ngài thị hiện trong mơ và tôi tỉnh dậy với mồ hôi nhễu nhão, mệt lã.

Sau này (độc thân), khi cơ duyên chín mùi tôi bắt đầu tìm hiểu tâm linh trên net. Tôi bắt đầu Trì Chú Đại Bi, được 7 ngày thì có một Vong bay từ ót tôi ra, tôi nghe tiếng Trì Chú Đại Bi hằng ngày của tôi cùng câu Niệm A DI DA PHAT, sau đó thì tôi không còn triệu chứng nhức đầu và hoan hỷ rất nhiều trong việc xem giáo lý Phật Giáo, kinh điển (trước đó hay đau đầu). Khoảng thời gian đó tôi bắt đầu ăn chay. Tôi ăn chay bởi tôi thương chúng sanh nhiều lắm, tôi không đành ăn chúng!

Niềm đam mê xem giáo lý Phật Giáo hầu như chiếm hết tâm trí tôi, đến độ chút tạp niệm trong đầu dường như cũng không còn, nó trống rỗng, sau này tôi mới biết đó cũng là một cách tu.

Mỗi ngày tôi Trì Chú Đại Bi 108 biến, khi rảnh tôi xem giáo lý Phật giáo, khi đi tập thể dục hay đi chợ tôi luôn niệm ADIDAPAT hoặc Trì Chú trong Tâm. (phần này nhờ ông Tổng Quản chỉ dạy thêm, bởi khi tôi Trì Chú hay niệm Phật thì Tâm tôi Thanh Tịnh hơn nhiều trước khi Thiền Định, nhưng theo ông TQ nói là thời Đức Phật không có Tụng Kinh Trì Chú ... vậy thời nay mình có thể không?). Khi tôi nhổ cỏ thì Tâm tôi đặt nghi vấn: "nó cũng là một chúng sanh, nó cũng có sự sống, vậy thì tôi có sát sinh một sinh linh nhỏ bé không?". Tôi Trì Chú Đại Bi cho các chú Sâu bé nhỏ và các chú Ốc Bưu, ... nghe. Không hiểu sao khi tôi muốn mở miệng nói chuyện gì tôi luôn nói chuyện tốt, lúc đó tôi cũng chưa rõ đó là Bát Chánh Đạo. Tôi nghe hầu hết các bài giảng của Hoà Thượng Tuyên Hoá, càng nghe tôi càng thấm thía, càng thấm nhuần trong Tâm trí tôi, tôi càng thương cho các bạn đồng cảnh ngộ với tôi, vì nơi tôi ở chỉ là tiếng Hoa (Taiwan), và bấy giờ đa số họ không biết xử dụng vi tính nên tôi phát Tâm in ấn sách, đĩa CD, VCD mong tất cả các bạn ấy được nghe thấy. Hầu như tất cả mọi nơi đều có sách Phật Giáo bằng tiếng Việt gần nơi tôi cư ngụ, sau đó tôi làm Blog và phát triển phổ biến Giáo Pháp Phật, sau này mới biết "tu là phải có phương pháp tu, tu cho chính mình, chứ không phải chạy lòng vòng bên ngoài, đó chỉ là lót đường cho việc tu sau này thôi, không phải là giải thoát sanh tử"!.

Lúc bấy giờ tôi giữ giới tuyệt vời, dù trong mơ có thấy sinh vật bé tí tôi cũng nhặt mang đi phóng sanh, có khi thấy trong mơ ăn thịt chúng sinh, khi tỉnh dậy lòng buồn vời vợi và luôn tự trách mình. Tôi tu tại gia nhưng cũng có người này người kia mang đồ cho (giống Cúng Dường vậy), nhưng trong thâm Tâm tôi nghĩ: "bản thân cần làm Phước nhiều hơn sao lại nhận của người khác? Tiêu Phước thì hết Phước, nhưng ngặt nỗi đó là do người ta cảm thấy mến mình, nên tặng cho mình nào tiền của vật chất, ... nhưng tôi sợ nhận của lắm, tôi gởi cả về VN làm Phước dùm họ (in ấn sách Phật Giáo, Kinh điển ...).

Cũng thời gian này, khi tôi nhìn vào không gian thì thấy những hạt li ti màu trắng sau này mới biết đó là hạt Hằng Sa, nhìn vào ngọn lửa của cây đèn cầy thì thấy có một hình vòng tròn dạng elip, trong cái elip đó có một tu sĩ đầu trọc, nhưng bây giờ không có những hiện tượng đó nữa.

Ma Khảo (trong lúc đang ngủ):

1
. Một cảnh tượng hiện ra là có một người muốn cùng tôi giao hợp, tôi liền xòe 2 chân ra và nói "lại đi", thì đột nhiên tiếng chuông reo đồng hồ báo thức, đúng 6g sáng.
2. Cũng giống lần thứ nhất, nhưng lần này tôi từ chối vì làm vậy (lúc đó tôi ngủ ở phòng thờ Phật và QTABT) không được tôn kính vì nơi đây là nơi thờ phụng, hiện tượng liền biến mất.
3. Trong phòng ngủ của tôi, cũng có người đòi quan hệ với tôi, có một cảm giác rờ từ âm hộ cho tôi hưng phấn và khi tôi nhận ra thì tôi bảo "không được, tôi không thể, bởi vì nếu còn dâm dục thì tôi không thể ra khỏi Tam Giới", thế là liền biến mất trong tích tắc.

Tôi tìm hiểu cách Thiền Hơi Thở, Thiền Định đưa tôi vào một cõi của Sắc Giới, đẹp tuyệt vời, mà vào Định thật lẹ
(sau này mới biết) vì Tâm tôi lúc ấy ko có suy nghĩ gì cả, nó trống rỗng, bây giờ ngồi viết lại quả là tuyệt làm sao! Nhưng tôi chẳng có ai để chỉ dạy cách Tu, toàn xem trên net rồi tự Tu hay Tu mò! Niềm ao ước có một vị Thầy tâm linh trong tôi như dâng trào. Rồi lại đọc, người ta bảo Thiền Định mà không có người hướng dẫn sẽ bị ma nhập ... tôi dừng Thiền Định.

Trong quá trình tìm hiểu Phật Pháp tôi hầu như nghe đi nghe lại say mê các bài giảng của Hoà Thượng Tuyên Hoá, nhưng tôi không tìm được hướng dẫn thực hành tu (hình như phải đích thân đến chùa Thiền mà tôi với Vạn Phật Thánh Thành ở tận Mỹ thì quá xa).

Trong quá trình làm blog tôi có quen một tu sĩ ở VN.
Tôi bày tỏ niềm ao ước được đi tu, lúc bấy giờ tôi nghĩ xuất gia mới có thể giải thoát sanh tử. Rồi tôi được giới thiệu cho một vị tu sĩ đang du học bên Taiwan và chúng tôi quen nhau. Tôi mời gọi vị tu sĩ ấy đến nhà, tôi cần tìm hiểu cách xuất gia ở Taiwan, mà bản thân không hề hay biết đó là lần thất bại nặng nề cho việc "nhân khảo". Cũng từ đó tôi có cái nhìn khác "không phải ai cạo đầu cũng thật sự là tu sĩ, không phải xuất gia là tu mới được giải thoát sanh tử", tôi bị sốc một thời gian dài. Niềm tin, tội lỗi, hụt hẫng bao trùm lấy tôi, mặc cảm tội lỗi khiến tôi đau khổ vô cùng, rồi nào thị phi oan khiên, v.v... nhân khảo càng lúc càng nhiều, tôi đều thất bại, tuy tôi không kháng cự trước mặt họ nhưng tôi đã nguyền rủa thật độc, bây giờ tôi sám hối vô cùng!

Nhân duyên đưa tôi đến với trang web HSTD, tôi nhận ra nhân phẩm của ông Thầy quá tốt và lương thiện (10 năm châm cứu cho người miễn phí), điều khâm phục nhất là Thầy từ đạo Thiên Chúa Giáo mà tu giảng về Phật Giáo thật không thể chê vào đâu, đặc biệt nhất là có phương pháp tu Tịnh Độ (Niệm Phật Quán Chấm Đỏ) khiến tôi cảm thấy như bắt được của quý. Tôi tinh tấn tập và có chút linh ứng. Sau đó tôi bỏ ăn chay và ăn mặn, theo phương pháp HSTD là có phương pháp "Độ Tử" tức là độ Vong Linh của người đã chết, sinh vật đã chết lên Thượng Phẩm Thượng Sanh của Phật A DI ĐÀ, suy đi nghĩ lại, thì điều đó là tốt chứ có xấu đâu, mình ăn mặn chỉ vì giúp họ siêu sinh lên cảnh giới không có sự đau khổ, thế là tôi ăn mặn. Nhưng sự thật, thật phũ phàng, lối xóm bảo tôi đã theo tà giáo, với tôi, niềm tin với Thầy là số 1, nên ai nói gì tôi cũng không nghe và có cảm giác không vui. Theo nguyên tắc tuyệt đối không sát sinh nên trong giấc mơ của tôi cũng đặc biệt ... bùn cười và đáng suy ngẫm. Mơ: Bắt được 2 con cá thay vì đem phóng sanh, tôi bắt nó để vô cái thau và nghĩ: "để nó chết rồi mới ăn" ... hì hì hì ... bó tay.com !!!

Có một lần trong lúc công phu nữa mê nữa tỉnh tôi thấy bản sao của thân tôi, nó bò, lết, khi nó vào thân tôi thì tôi có cảm giác muốn giao hợp, cho đến bây giờ tôi mới hiểu, bản thân tôi cũng như quý đọc giả có rất nhiều chúng sanh, để nó rời xa mình thì khó, mà chiêu cảm nó lại thì dễ vô cùng, khi ta cung phụng bồi dưỡng cho chúng sanh đó càng nhiều thì nó trở nên là một chúng sanh trội hơn
(biệt nghiệp).

Hơn một năm trôi qua tu ì ạch, rồi sau khi từ VN trở lại tôi vô cùng chán nản vì sự tranh cải hiềm khích nhau, chỉ trích nhau, một số sự thật đáng buồn ..., mỗi lần vô diễn đàn HSTD tôi lại bị phiền não, tôi viết thư hỏi Thầy nhưng không có hồi âm, và vì sợ "Vượt Pháp" nên tôi thà ăn chơi mà không tu tập gì nữa, chứ không dám tu tập theo bất kì một vị nào, dần dần tôi xa rời cuộc đời tu sĩ, tôi vấn vào trò chơi games, xem tin tức, xem phim tình cảm ... và cả phim cấp 3 nữa. Những thứ này ngày trước hầu như tôi không có hứng thú với chúng nhưng giờ lần lượt quay về. Nó làm tôi cảm thấy giống như đi một vòng trái đất rồi hoàn nguyên về nơi chốn xưa vậy đó. Buồn nhỉ?

Rồi một hôm, ân nhân của tôi xuất hiện, anh tận tình bày tỏ cho tôi rõ đúng sai phải trái, tôi dần hiểu ra và bắt đầu làm lại từ đầu với Pháp Môn "Thiền Định" của Ông Tổng Quản tuyệt cú mèo.

Một bức thư tôi gởi cho Thầy trước khi rời xa Thầy và bạn đồng tu ở HSTD, tôi hỏi Thầy: Phật Giáo thật sự có "độ tử"? và bảo nếu Thầy không trả lời vấn đề này cho con thì con xin phép "Vượt Pháp", bởi trong thâm tâm tôi vẫn còn sợ hai chữ "Vượt Pháp". Nhưng Thầy không có hồi âm cho tôi!


Sau này hiểu rỏ vấn đề thì thực sự tôi càng cảm kích ân nhân đó đã đưa tôi ra khỏi bến mê, nếu không, tôi u mê đến bao giờ?

Phật Thích Ca từng Thuyết Nhân Quả rất nhiều nên ông Tổng Quản bảo ăn chay giữ Giới, căn bản của một người Tu Thiền Định:

".........
Ðể thực hiện việc tu, tu sĩ phải đi qua 8 bước cơ bản:

1. Tịnh giới gồm có: Không sát sinh, không vọng tưởng, không trộm cắp, không tà dâm, không tham lam.
2. Dự bị tu tập: Tịnh thân, tịnh tâm, khổ hạnh.
3. Luyện tập các vị thế để tu Thiền Định: Tập các vị thế đặc biệt.
4. Tập luyện hô hấp: Tập luyện hơi thở.
5. Làm chủ các giác quan: Thực tế là bế lục căn như Phật Giáo.
6. Chú tâm vào một đối tượng duy nhất.
7. Liên tục chú tâm vào một đối tượng duy nhất.
8. Nhập định.
........."

Mình rất tâm đắc và từng bước một, khi tôi xem các bài của ông Tổng Quản, luôn có một quyển sổ ghi chép những điều quan trọng, tập tành ăn chay, ... thật lòng mấy ngày đầu còn quyết tâm nhưng quả là khó, tôi phải ăn chay lần thứ 2 mới ổn định đến bây giờ. Nhưng khi ngồi Thiền cái Tâm nó không như ngày xưa nữa, nó chạy lung tung, nghĩ vớ vẩn, ... tôi phải tập dần hơi thở ra vào (phần này hy vọng ông Tổng Quản chỉ rỏ hơn cách tập hơi thở, cám ơn!). Đúng vậy, khi Phật Thích Ca còn tại thế, Ngài chỉ hướng dẫn Đệ Nhất Thần Thông Mục Kiền Liên khi cứu Mẹ là cúng dường trai tăng, chứ chẳng có độ tử gì cả. Vì thế, chuyện độ tử là không có, nên việc ăn mặn chỉ làm thêm cho Tâm loạn động mà thôi, không từ bi!

Ông Tổng Quản cũng nói, tu chỉ có Thiền Định, không có Thiền Định thì không có mùi tu giải thoát sanh tử, mà muốn có Định thì Thân Tâm phải thanh tịnh.

Đây là bài viết của một cư sĩ tu ì ạch như tôi nên có nhiều điểm khiếm khuyết mong góp ý thêm, cám ơn rất nhiều!

Tôi rất thích bài hát "hạnh phúc đơn sơ" ... tỉnh Mộng đi em, quay về với Chánh Pháp, kẻo uổng cả kiếp này!

Rất cám ơn ân nhân, cám ơn Thầy Tibu, anh Nh, cám ơn các bạn đồng tu và sau cùng cám ơn ông Tổng Quản cùng Tam Tiểu Thư.


Tâm Như Kính!