Pages

Lá thư độc giả 9

      
          X i n  h ã y  t h ổ i  b ù n g  . . .
                      n g ọ n  l ử a  t r á i  t i m !


Em chào Tam Tiểu Thư!

Cảm ơn Tam Tiểu Thư trong bài "Thiền Định lý thuyết 1: Tầm quan trọng của Đề mục đã có những lời nhắc nhở về phần đề mục, hay nói cách khác là phương pháp tu hành! Cách trình bày của Tam Tiểu Thư cũng là muốn cho Quý Độc giả lựa chọn con đường đúng đắn nhất cho mình, kẻo bị lạc hướng đi ngay từ những bước đầu tiên trên con đường đi tìm sự " thoát ly sinh tử ".

Nhưng như Tam Tiểu Thư và Quý vị cũng biết đấy: Văn học cùng nội dung sách báo và văn hóa phẩm có ảnh hưởng thế nào đến tư duy và đời sống Con Người. Trong trang blog CTR này, lời nói của những người dẫn đường cho người tu hành lại càng vô cùng quan trọng.

Xin Tam Tiểu Thư hãy làm bùng cháy và lan rộng ra hơn nữa những ngọn lửa nhiệt huyết yêu thích chuyện tu hành, nhất là những người mới như chúng em; và hơn nữa, cả những người bắt đầu thấy ánh sáng le lói phía chân trời trước mặt (hay nói cách khác là: Những người đã bắt đầu đạt được một số kết quả ban đầu của quá trình Thiền Định).

Lời nói của những người như Tam Tiểu Thư sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến việc chúng em đi nhanh hay chậm trong hành trình đi tìm lại Viên ngọc sáng trong Tâm .

Bây giờ, giả sử chúng ta hãy thử tưởng tượng ra một câu chuyện như sau:



Ở dưới chân núi kia, bên cạnh một dòng sông lớn, là nơi mẹ con nhà Dê sinh sống.

Dê mẹ ngày ngày phải lo dạy dỗ, bảo vệ cho đàn con. Cuộc sống đầy những mối hiểm nguy rình rập: Dòng sông đang mùa nước, có thể những con lũ kia sẽ bất thình lình dâng cao nhấn chìm bao sự sống, cuốn đi sinh mạng của đàn con còn non nớt; hay những đàn thú dữ săn mồi luôn là mối đe dọa sự yên bình của cuộc sống.

Dê mẹ biết rằng ở bên kia đỉnh núi kia là một Cao nguyên phì nhiêu màu mỡ với những đồng cỏ non xanh mướt, thơm lừng; là những nguồn nước trong, ngọt ngào mát rượi; là nơi chim muông suốt ngày ca hót dưới ánh nắng chan hòa trên những cành lá xanh tươi bên những bông hoa đang thi nhau khoe hương, đua sắc. Nơi ấy là nơi mà các con của mình có thể tung tăng nhảy múa mà không sợ những nỗi hiểm nguy rình rập của những loài thú dữ hay sự bạo hành của những dòng lũ hung hăng.

Dê mẹ rất muốn đưa đàn con của mình di cư sang bên kia núi, nơi có đầy sự hứa hẹn của một cuộc sống như Thiên đường. Nhưng … muốn sang được vùng đất tươi đẹp kia, những đứa con còn non nớt của mình sẽ phải trải qua bao gian lao vất vả mà Dê mẹ cũng đã hằng trải nghiệm bằng chính cuộc đời của mình: Đó là việc phải băng qua những vách núi đầy cheo leo hiểm trở; và phải vượt qua những khu rừng đầy những bụi cây gai góc. Đây là cuộc hành trình với đầy gian nan và hiểm trở.

Cho dù vậy, Dê mẹ vẫn rất muốn đưa được đàn con của mình vượt qua khó khăn thử thách để đến được vùng đất Cao nguyên xinh đẹp, hạnh phúc kia. Dê mẹ đang dẫn đầu, đứng trước đàn con. Nó đã cách đàn con của nó được một khoảng khá xa rồi. Nó đứng đợi đàn con và có 2 cách để nói với các con:

   1. Các con ơi! ... Để đi sang được phía bên kia của dãy núi, sẽ có rất nhiều điều khó khăn, hiểm trở trên đường đi và sẽ có lúc các con cảm thấy mình mệt mỏi.
   2. Các con ơi! ... Ở trên Cao nguyên bên kia dãy núi là cả một sự sống và tương lai tươi đẹp! Qua bên đó rồi, các con sẽ không bao giờ phải lo tới việc sự sống của mình sẽ bị tước đoạt bởi những loài thú dữ. Nơi ấy các con tha hồ vui chơi chạy nhảy và thỏa sức tắm mình trong cuộc sống thơ mộng, ấm no. Nơi ấy có những dòng nước ngọt ngào; những thảm cỏ non đầy sữa, xanh mướt trải dài vô tận; và cả những bông hoa đẹp đầy hương thơm quyến rũ. Bao nhiêu hoa thơm cỏ ngọt đang chờ đón các con!

          .·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Thưa Tam Tiểu Thư!

Câu thứ 1: Dê mẹ sẽ làm nhụt đi tinh thần và ý chí muốn đi đến vùng đất đầy hứa hẹn của sự bình yên, hạnh phúc, ấm no.
Câu thứ 2: Dê mẹ sẽ động viên, khích lệ, thúc giục và thổi bùng ngọn lửa tinh thần cho đàn con của mình dễ dàng quên đi cả những nỗi vất vả, đạp lên chông gai rồi tiến nhanh hơn về phía trước.

Xin Tam Tiểu Thư hãy giúp em chọn một cách cho Dê mẹ với nhé!

          .·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Bà con, Cô, Bác ơi!

Tục ngữ có câu: " Có công mài sắt, có ngày nên kim "

Nếu như chúng ta mài một ngày chưa nên kim thì ta làm 3 ngày, 5 ngày, 10, 100 ngày … Cũng giống như trong một đời ta chưa tu xong thì ta sẽ tiếp tục ở kiếp sau, kiếp sau nữa, đúng không Quý vị? ... Nhưng muốn đi đến đích nhanh thì chúng ta phải cùng nhau cố gắng lên nhen!

Em chúc Bà con tinh tấn và Nguyện cho những "Cây" của Bà con đang vun trồng sẽ sớm ra hoa, trổ quả nghen!
“ Dzui nghen Bà con ! ” 

(Câu này là em bắt chước của Thuậncali đó! Dzui hông?) Bà con ơi, khi nghĩ đến câu này em tưởng tượng chị Thuận Cali chị ấy đang mỉm cười nói với Bà con và mong muốn Bà con thiệt là vui như chị ấy vậy.

Em yêu Bà con!

Hoa Đồng Nội





Trao đổi cùng quý độc giả về Mandala



Địa Điểm: Tại một tiệm cà phê tại thành phố Sài Gòn.

- Tam Tiểu Thư:

Em xin kính chào toàn thể quý độc giả hiện đang có mặt nơi đây, em cũng xin gởi lời kính chào đến tất cả
quý vị khán giả ở nhiều nước trên khắp thế giới, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Đài Loan, Việt Nam … Xin thay mặt cho tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp, cám ơn quý độc giả đã quan tâm ghé qua thăm trang blog của CTR. Tuy được rất ít quý vị phản hồi, nhưng cũng có rất nhiều quý độc giả đóng góp một cách nhiệt tình trung thực, trong tinh thần xây dựng để trang blog hiệu quả hơn, dễ hiểu hơn; cụ thể là: 

   * Cần phải trình bày bài viết dễ hiểu hơn nữa, tránh sử dụng những từ ngữ chuyên ngành, nếu sử dụng từ ngữ chuyên ngành, thì phải giải thích cặn kẽ, rõ ràng. Tránh sử dụng từ ngữ bằng tiếng nước ngoài, nếu có sử dụng thì phải dịch ra tiếng Việt Nam, kèm theo giải thích để cho dễ hiểu.
 

   * Nhưng cũng có nhiều quý độc giả ở nước ngoài, lại có yêu cầu là những từ ngữ chuyên ngành cần phải viết bằng tiếng nước ngoài, để cho những người không rành tiếng Việt Nam lắm, có thể hiểu được. Sử dụng những ngôn ngữ phổ thông như: Anh, Pháp, Đức …

Qua hai bài trình bày về hai trường phái hoàn toàn khác biệt nhau, để đưa đến định tâm, thì những phản hồi ít nhiều cũng làm cho em khá bất ngờ. Đối với đại đa số quý độc giả cả hai trường phái này dường như là xa lạ, và nhiều người khác thì chưa từng biết đến bao giờ.

Chẳng riêng gì tu tập Thiền Định, mà tất cả những loại tập luyện nào liên quan đến tinh thần, thì đều cần đến tập trung tư tưởng. Điển hình như những trường phái võ thuật, ngoài việc tập luyện quyền cước, giao đấu, đối kháng, công phá … song song đó đều phải tập luyện tĩnh tọa, ngồi yên lặng tập trung tư tưởng … Bình dân mà nói, nếu quyền cước là động, thì ngồi tĩnh tọa là tĩnh … Người tập Thôi Miên cũng không loại trừ việc tập trung tư tưởng.

Trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy và trường phái Mật Tông Tây Tạng, tuy khác nhau sâu sắc từ hình thức đến nội dung, nhưng có một thứ lại hoàn toàn giống nhau, đó là việc triển khai công thức bất tử: 


          "Chánh Định là tư cách Chú Tâm vào vật duy nhất"

CTR trình bày hai trường phái nói trên chỉ với mục đích duy nhất là cung ứng những sản phẩm vừa với ý thích của nhiều quý độc giả khác nhau.

Những độc giả xa lạ với hai trường phái này có thể là những vị đã bỏ rất nhiều thời gian vào một việc tập luyện một dạng Thiền Định nào đó. Và những dạng Thiền Định này có lẽ có khoảng cách với những trường phái tập luyện tập trung tư tưởng một cách chính quy.

Kính thưa quý độc giả,

Bộ môn dạy Thiền Định, tập trung tư tưởng như quý độc giả vừa biết, theo chiều dài của lịch sử thì là tài sản chung của nhân loại. Nó hoàn toàn không phải là đặc sản riêng tư gì của trường phái Phật Giáo.

Sau đây em xin nêu ra ý kiến của một số quý vị độc giả:

- NQD:
@ Thiền định thực hành: bài 2
 
Cảm ơn nhóm CTR nhiều lắm, rất háo hức chờ đợi những bài viết tiếp theo của nhóm, chúc mọi người trong blog mạnh khỏe và tu tập tinh tấn.

- Tam Tiểu Thư:

Em xin trân trọng cám ơn quý độc NQD đã động viên tinh thần em. Tuy nhiên, khi quan sát số độc giả ghé qua trang blog của CTR gần đây, thì em nhận thấy số lượng quý độc giả có phần giảm sút rõ rệt. Theo suy nghĩ chủ quan của em, thì có lẽ những bài viết của CTR về vấn đề Thiền Định, đã không đáp ứng được yêu cầu của quý độc giả. Tôn chỉ của CTR là "Viết những điều quý độc giả cần, chứ không phải viết những điều mình muốn viết". CTR sẽ cố gắng để hoàn thiện hơn trong tương lai.

- Tam Nhu: @ Thiền định thực hành: bài 2

Xin chào tất cả!
Xin cho hỏi với tư thế nằm mà tay cầm chày và bắt ấn khi công phu, đến sáng tay vẫn còn cầm chày và bắt ấn, vậy tư thế này có thể áp dụng khi công phu không? Xin TTT chỉ bảo thêm và cho ý kiến, cám ơn TTT nhiều!
p/s: khi đến sáng tay cầm chày phải nói là cứng đơ, đôi khi bị tê.


- Tam Nhu:
@ Thiền định thực hành: bài 2

Bổ sung
ý em muốn hỏi có cách nào để mình phân biệt là đang nằm thiền hay đang ngủ?


- Tam Tiểu Thư:

Thưa chị Tâm Như!

Chắc chị còn nhớ trong một bài viết về thực hành, em có đề cập tới vị thế Thiền Định. Mục đích chánh của chúng ta là tu Thiền Định, và bước đầu quan trọng nhất là làm sao Định Tâm thành công. Gần đây CTR đã giới thiệu hai phương cách, một là của Phật Giáo Nguyên Thủy, phương cách khác là của Mật Tông Tây Tạng. Xin thưa lại cùng chị, vị thế nào mà đưa lại thư giãn, buông thả, dễ chịu nhất, là vị thế tốt nhất cho mình tu Thiền Định. Và ngược lại, vị thế nào, mà tạo cho cơ thể không được thoải mái, không buông thả, mà còn cứng đơ, đôi khi bị tê … thì có lẽ không phải là một vị thế tốt.

Việc phân biệt giữa ngủ mê và Thiền, kể ra cũng khá dễ dàng. Khi Nhập Định thực sự, thì tâm trí hoàn toàn sáng suốt, tinh thần vật chất nhẹ nhàng, hạnh phúc, mọi việc đều ở trong tầm ý thức, các Phiền Não tạm thời không còn hiện hữu. Ngủ mê thì hoàn toàn ngược lại, trong lúc mê mình mất hoàn toàn ý thức, thậm chí lúc tỉnh dậy cảm thấy mệt mỏi.

Em hy vọng được gặp lại chị trong những bài viết khác.

Say đây em xin giới thiệu quý độc giả Tu Phong Son:

- Tu Phong Son: @ Thiền định thực hành: bài 3

Kính Tam Tiểu Thư,


Trước chúc mừng cô vừa mới Make up về, có cái photo thật xinh.
Chính, nói về Mandala. Theo bài trước thì đối tượng quán là Vô nhân còn Lục Độ Mẫu thì là người nữ. Vậy có mâu thuẫn gì không.
Nếu tiểu sinh thay mandala này thành một biểu tượng khác dể hơn như là vẽ ra một hình Bát quái (như cái mạng Nhện) thì được không ạ.
Ngoài ra, tiểu sinh thấy trên mạng có nơi họ thiền định dùng nhịp song âm (Binaural beats) để hạ sóng não về theta (4-7hz). Điều này có sai theo Vi diệu pháp không ạ?


- Tam Tiểu Thư:

Kính chào quý độc giả Tu Phong Son!

Em xin chân thành cảm ơn những lời khen ngợi của quý độc giả. Là phụ nữ thì ai cũng muốn make up để mình trở nên đẹp hơn, duyên dáng hơn. Thật ra thì chẳng kể là phụ nữ hay nam giới, ai cũng muốn đẹp trai, đẹp gái. Thời buổi @ này thì ngoại hình có vai trò rất lớn trong giao tiếp và kinh doanh. Riêng với Tam Tiểu Thư thì do bị "nhiễm" tư tưởng Phật Giáo hơi nhiều, nên biết Sắc Tướng là thể hiện của Nghiệp. Tâm tạo ra Nghiệp, và Nghiệp tạo ra Sắc Tướng. Do đó, khi Sắc Tướng thay đổi (kể cả là nhờ make up thành công), em hy vọng nghiệp lực tiêu cực cũng giảm đi phần nào, và nhờ vậy có nhiều cơ hội để đảm đương công việc đã được phân công, là phục vụ quý độc giả.

Đúng như những gì quý độc giả nhận xét, hai trường phái này xét ở bất cứ góc cạnh nào cũng hoàn toàn mâu thuẫn. Và cũng đúng như quý độc giả quý độc Hoa Đồng Nội có đưa ra nhận xét, kỹ thuật của Mandala Lục Độ Mẫu chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tạo ra trạng thái Định Tâm, cho quý độc giả nào hữu duyên với công cụ tu Thiền Định này.

Những điều quý độc giả thắc mắc là hoàn toàn chính xác. Sở dĩ CTR chưa trình bày về vấn đề này vì có rất nhiều lý do. Trước nhất, bài viết về Mandala Lục Độ Mẫu vẫn chưa hoàn tất, quý độc giả cũng chưa tập luyện với thời gian đủ dài. Nếu bây giờ đưa ra quá nhiều thông tin thì tất nhiên phải có những thông tin tích cực lẫn những thông tin tiêu cực, về cả mặt hữu vi lẫn vô vi.

Em lấy một thí dụ về việc tập luyện Mandala Lục Độ Mẫu.





- Khía cạnh tích cực là nếu tập thành công thì Tâm sẽ đứng im, mà thời gian Định Tâm kéo dài rất lâu. Đây là việc mà CTR mong muốn mang lại cho quý độc giả.

Trên thực tế thì từ xưa đến nay, nhân loại sử dụng trăm phương nghìn kế, nhưng dường như khó có cách nào để đưa đến việc Định Tâm cho người tập luyện. Ít nhất ở lãnh vực này, Mandala do những người Tây Tạng chế tác, thực sự là một phát minh quan trọng, một dấu mốc đáng ghi nhớ. Chính Mandala đã nâng công thức "Chánh định là tư cách chú tâm vào vật duy nhất" lên một tầm cao mới (vấn đề là sáng tác ra những mô hình khác, em sẽ đề cập đến sau).

Quả đúng như vậy, với kỹ thuật này đã có học giả nhận xét rằng những tu sĩ Tây Tạng mặc dù không phải là người có tư chất thông minh, nhưng họ đã tập rất thành công!

Chúng ta có thể tự hỏi là đàn pháp Tây Tạng có cái gì là cao siêu, huyền bí chăng? Theo thiển ý của em thì Mandala có nhiều vấn đề mà chúng ta cần quan tâm tới:


*** 1 Mandala triển khai thành công công thức bất tử: 
          "Chánh Định là tư cách Chú Tâm vào vật duy nhất" 

*** 2 Mandala gồm có tiến trình của nhiều màn kịch trong một vở kịch. Điều này đã tạo ra một áp lực rất lớn lao cho bất cứ ai, chứ không riêng các tu sĩ Tây Tạng.  

*** 3 Mandala là Đối Tượng dùng để Quán Tưởng trong khi Thiền Định (Theo những tài liệu chính quy). Nó không phải như một số người tập Mật Tông Tây Tạng ở Việt Nam đã hiểu lầm, là triển khai Mandala này bằng Ấn Chú, thiết lập Đàn Pháp Hữu Vi. Thêm vào đó họ còn truyền bá loại Chân Ngôn này, Ấn Chú kia, Mandala nọ … có công năng là chữa bệnh, trừ tà, tác pháp, thay đổi khí hậu các trận bão … Điều này em đã được mục kích tận mắt trên thực tế!

Em xin nhắc lại, Mandala Tây Tạng chỉ là một công cụ để tu Thiền Định.

- Khía cạnh tiêu cực: Hiện tượng mà em sắp trình bày sau đây có thể sẽ làm cho nhiều quý độc giả lúng túng. Thật ra thì nó sẽ là quá sớm khi trình bày điều này ở đây; nhưng do quý độc giả Tu Phong Son đặt ra, em buộc lòng phải nói ra. Mong rằng những điều trình bày này không làm cho quý độc giả đang tập luyện mang tâm trạng bối rối …

Đúng như quý độc giả Tu Phong Sơn nhận xét. Khi Cảnh Giới nào đó mà có tính chất Bản Tánh Sắc (từ ngữ này mô tả là có nam, có nữ), thì theo quan điểm của trường phái Phật Giáo, nó nằm trong cảnh Dục Giới. Kể cả cảnh Thiên Dục Giới là do Định mà có, nhưng cũng thuộc về Dục Giới. Do trình độ này (level) rất gần với Cảnh Giới Người, cấu tạo Tâm cũng tương tự nên làm cho người ta rất dễ Nhập Định. Ngoài vấn đề các thao tác kỹ thuật phức tạp, làm quá tải các giác quan của con người, thì đây có thể là một lý do nữa giúp người ta rất dễ Định Tâm khi quán tưởng Mandala. Một khi Định Tâm được, thì có một hệ quả trên thực tế là trong lúc tu Thiền Định, người tu loại Thiền Định này hay gặp các Vong Linh đến nhờ vả việc này, việc kia. Lý do như phần trên vừa nói, vì chúng ta rất gần gũi với những Cảnh Giới này, cấu tạo tâm tương tự nên các Vong Linh dễ giao tiếp với chúng ta.

Hiệu ứng này thật ra có hai mặt, chứ không thể nói là hoàn toàn tiêu cực. Dưới nhãn quan quá khích của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy, họ cho rằng đó là sự thoái hóa. Thế nhưng quý vị thử suy nghĩ xem, lần đầu tiên trong đời, chúng ta giao tiếp được với những Thực Thể không phải là người (mà những việc đó có thể kiếm chứng thực tế về mức độ trung thực), thì cũng tạo cho chúng ta Tâm lý, là cuộc sống này không phải chỉ có mình chúng ta, mà còn có những Thực Thể khác. Không những thế đây lại chính là kinh nghiệm bản thân của mình. Có thể nhờ kinh nghiệm này, mà những người dù có tâm lý duy vật nhất, cũng phải suy nghĩ lại. Kinh nghiệm này giúp chúng ta trở nên quyết tâm hơn trên con đường tu Thiền Định. Nếu suy nghĩ theo chiều hướng đó, thì chưa chắc các Mandala chỉ mang lại những hiệu ứng tiêu cực.

Còn một vấn đề khác xa hơn nữa mà có thể rất nhiều quý độc giả chưa thể thông cảm được, do quý vị chưa có một kinh nghiệm bản thân về nó. Người tập luyện một Đàn Pháp nào đó, tất nhiên có một vị gọi là chủ Chân Ngôn, có thể mang những tên tuổi mà nhiều quý vị biết đến, nhưng đồng thời quý vị cũng biết đó chỉ là những nhân vật hư cấu, cụ thể là không có thật!. 


* * * * * * * * * * * *

Theo cách tập này, người tu Thiền Định cố gắng: 

   * Quan sát cho kỹ, cố nhớ từng chi tiết, với tất cả khả năng nhớ của mình, về một Vị nào đó. Tốt hơn nữa là chúng ta có một cái tượng không gian ba chiều (chính vì lý do này, những người tu Mật giáo Tây Tạng có rất nhiều tượng cất trong tủ khi không dùng đến)
   * Nhắm mắt lại khi ngồi công phu, chúng ta phải,
   * Hình dung ra hình ảnh đó (tạo ra một hình ảnh bằng tưởng tượng) … 
   * Việc này làm liên tục và cao độ (trong thời gian rất dài nhiều tháng, nhiều năm) … Thế rồi hình ảnh đó đến một ngày sẽ trở thành một Thực Thể giống như một cơ thể sống.

Có nhiều trường hợp có thể xảy ra. Một Thực Thể ở cõi nào đó mà không có cấu tạo Sắc, thì nay sử dụng cấu tạo Sắc này làm thân thể của mình. Đây là điều rắc rối nhất, khi hình ảnh này trở nên một Thực Thể sống động. Thực Thể này do chính chúng ta tạo ra, hay nói đúng hơn là do Tâm chúng ta tạo ra. Do đó, Thực Thể này ra sao là phụ thuộc ở cấu tạo Tâm của mình.

Công việc này có thể xảy ra cho bất cứ ai. Nó có thể do tình cờ hoặc do tập luyện chính quy các Mandala đạt được. Nói một cách cụ thể, nếu chúng ta là người nóng nảy thì Thực Thể đó sẽ nóng nảy … Nếu việc này có xảy ra thì đừng
trách ai, mà hãy trách chính mình. 

* * * * * * * * * * * *

Kính thưa quý độc giả Tu Phong Son,

Mandala có khắp trên thế giới, hiện diện ở rất nhiều tôn giáo khác nhau: Lão Tử, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo … Quý độc giả Tu Phong Son có thể tự làm ra một cái Mandala theo ý của mình. Mandala thường có hai ý nghĩa cơ bản: Vòng tròn và sự hoàn tất (circle, complet). Nó thường mang ý nghĩa là tiểu vũ trụ và đại vũ trụ (con người và vũ trụ), vũ trụ vĩ mô và vũ trụ vi mô.

Việc sử dụng tần số nào đó để hạ sóng não, thì rất phù hợp trên nguyên tắc lý thuyết vật lý. Nhưng trên nguyên tắc Thiền Định, thì người tu Thiền Định tránh sử dụng những biện pháp phụ trợ: Chất say, Thôi Miên … Họ thường tìm cách chủ động để làm chủ được tinh thần và vật chất. Tuy nhiên em thiết nghĩ, món ăn thì tùy khẩu vị.

Em xin cám ơn quý độc giả Tu Phong Son, em hy vọng sẽ được gặp quý độc giả trong những bài viết tới.

Em xin cám ơn quý độc giả Hoa Đồng Nội đã đóng góp rất nhiều bài viết có giá trị, điển hình như những bài viết nói về tác phẩm Vi Diệu Pháp. Để có được những bài viết này, quý độc giả đã phải mất nhiều giờ, nhiều ngày và có lẽ nhiều đêm để suy nghĩ.

Những bài viết gần đây của CTR ít nhiều đã sửa sang lại theo tinh thần đóng góp của quý độc giả Hoa Đồng Nội. CTR cố gắng viết bình dân hơn và tránh tối đa sử dụng những từ ngữ chuyên môn, tiếng nước ngoài. Cũng mong quý độc giả Hoa Đồng Nội thông cảm vì trang blog không phải chỉ dành cho người sống ở Việt Nam, mà còn có nhiều quý độc giả nước ngoài; thế nên việc chú thích bằng tiếng nước ngoài để tiện việc tham khảo cũng là điều hợp lý.

Cuối cùng xin đặc biệt cảm ơn những tình cảm Hoa Đồng Nội đã dành cho CTR. Những tình cảm này là động lực, là sự khích lệ về tinh thần quý báu giúp CTR có thêm năng lượng để hoàn thành những hoài bảo của mình.

Kính chúc quý độc giả tu Thiền Định tinh tấn.

Tam Tiểu Thư.



Thiền định thực hành: bài 3


          
           m a n d a l a  T â y  T ạ n g 
                                                 đ ỉ n h  c a o  c ủ a  k ỹ  t h u ậ t  Đ ị n h  T â m

 

Kính thưa quý độc giả!

Căn cứ trên thực tế thì cách sử dụng các Tâm Sở như một Đối Tượng để Quán Tưởng, là một kỹ thuật mang đầy màu sắc Vi Diệu Pháp, của Phật Giáo Nguyên Thủy. Tuy nhiên, do Đối Tượng Quán Tưởng là tư tưởng, nên cách Quán Tưởng này rất trừu tượng và có thể rất khó cho hầu hết mọi người. Để có thể hấp thụ được tư tưởng của tài liệu Vi Diệu Pháp, chúng ta cần một thời gian rất lâu để có thể biến những cái gì mình đã đọc, thành ra kiến thức của chính bản thân mình. Vi Diệu Pháp giống như Lý Thuyết Tương Đối ở chỗ, kinh nghiệm cuộc sống đời thường không giúp gì được cho chúng ta trong việc hiểu được ý nghĩa của hai lý thuyết nói trên.

Nhập Định thành công luôn luôn là mong muốn của người tu Thiền Định. Với chút ít kinh nghiệm Nhập Định của bản thân, ngoài cách chọn các Tâm Sở như một Đối Tượng Quán Tưởng, CTR xin mạnh dạn đề xuất một Đối Tượng Quán Tưởng khác: đó là Đàn Pháp của Mật Giáo Tây Tạng.

Có thể nói đàn pháp là một phát kiến thông minh để triển khai phát biểu của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy:  


          "Chánh Định là tư cách Chú Tâm vào vật duy nhất"

Những gì CTR sắp trình bày sau đây chỉ nhằm mang đến cho quý độc giả một phương cách thực tế, hữu hiệu để tạo ra trạng thái định tâm. Định Tâm chính là chiếc chìa khóa vạn năng để mở tất cả các cánh cửa, và rồi quý vị sẽ có cơ hội nếm trải những gì tuyệt vời, không có ngôn từ nào diễn tả được, nằm đằng sau cánh cửa đó.

Cách tập luyện này gồm hai phần:

     Phần I: đề cập tới những thao tác kỹ thuật thuần túy, để quý vị thực hiện trên thực tế.
     Phần II: sẽ trình bày lý thuyết về vấn đề này để tránh ngộ nhận về vấn đề tư tưởng.

          k ỹ  t h u ậ t  . . .

Trước nhất, CTR xin trình bày cách Quán Tưởng Mandala Lục Độ Mẫu (trong sách vở hay gọi là Green Tara).

Chúng ta tiến hành những thao tác như sau:

- Tìm chỗ ngồi nào đó vào thời gian thuận tiện.
- Kiểm tra lại vị thế ngồi hoặc nằm.
- Sau đó nhắm mắt lại, tưởng tượng là mình nhìn ra thế giới bên ngoài thông qua luân xa Ajna (còn gọi là huyệt Ấn Đường). Chúng ta phải tưởng tượng một cách cụ thể là ở tại luân xa Ajna có một cái cửa sổ tròn nhỏ; chúng ta ở phía trong nhìn ra ngoài qua cửa sổ đó.

Xin nhấn mạnh cùng quý vị là cách tưởng tượng này rất quan trọng. Có thể rất nhiều quý vị đã từng tập luyện lâu năm, nhưng do sử dụng sai Luân Xa, không biết cách tưởng tượng, thì không thể Định Tâm được. Trên lý thuyết thì ai cũng biết câu nói: 


          "Chánh Định là tư cách Chú Tâm vào vật duy nhất" 

Nhưng việc Chú Tâm này thực hiện như thế nào? Chú Tâm bắt đầu từ đâu và vào điểm nào? Xin trả lời là nhìn ra, hình dung ra hình ảnh từ luân xa Ajna. Từ luân xa này chúng ta phải nhìn ra hình ảnh một cách rõ rệt. Quán Tưởng là chúng ta tưởng tượng ra hình ảnh đó, thí dụ như tưởng tượng nhìn thấy "bông sen" trong ánh sáng ban ngày.

Sau đây CTR lần lượt mô tả tiến trình để quán tưởng hay nhìn thấy Đàn Pháp Green Tara. Mong quý độc giả từ từ theo dõi từng phần như sau:

A. Mô tả về việc hiện thân của Green Tara (embody):

 
 




Trước nhất chúng ta tưởng tượng thấy một luồng ánh sáng trong không trung, từ trên trời đưa xuống. Ở đây xuất hiện một bông sen màu trắng, đồng thời xuất hiện một chân ngôn là chữ AH. Chữ AH này biến thành một vầng sáng như mặt trăng, bao phủ toàn thể bông sen. 
Tiếp theo là một chân ngôn chữ "Đam" màu xanh lá cây. Chữ "Đam" này biến thành một bông sen màu xanh lá cây. Lục Độ Mẫu xuất hiện từ bông sen màu xanh lá cây.



Người tu Quán Tưởng, nhìn thấy, tưởng tượng, những diễn tiến kể trên như một cuốn phim càng rõ nét càng tốt và các diễn tiến xảy ra liên tục. Việc Quán Tưởng này làm cho chúng ta chìm sâu trong kịch bản khá phức tạp.

Vừa nhìn thấy kịch bản này trong trí tưởng tượng, song song thì nghe thấy Chân Ngôn kể sau (mong quý độc giả ghi nhớ):

B. "Om svabhawa shuddha sarva dharma svabhawa shuddho ham"

C. Chân Ngôn căn bản của Lục Độ Mẫu, mong quý độc giả phải thuộc lòng:

    "Om Tare Tuttare Ture Svaha".

Quý vị cứ đọc theo cách phát âm của người Việt Nam cho nó đơn giản.

     Chân ngôn này có nghĩa gì?

Trên nguyên tắc, người ta cho Chân Ngôn là lời nói bí mật của chư Phật, không thể cắt nghĩa được. Tuy nhiên, như quý vị cũng biết, có một số Chân Ngôn quá phổ thông, thí dụ như: "Om Mani Padme Hum", người ta vẫn cho biết ý nghĩa từng chữ. Chân Ngôn vừa kể trên cũng rất phổ thông, do đó người ta cũng cắt nghĩa từng chữ, và ý nghĩa của nó như sau:

   * Om: Đó là âm thanh tượng trưng toàn thể vũ trụ, tượng trưng của hiện tại, quá khứ, vị lai.
 
   * Tare: Tượng trưng cho sự cứu rỗi, thoát khỏi khổ đau và nguy hiểm. Tara là Đấng cứu độ trong lụt lội, thú dữ, tai nạn giao thông.
   * Tuttare: Tượng trưng cho sự Giải Thoát trên con đường tiến hóa tâm linh, hướng dẫn con người giải thoát khỏi khổ đau.
   * Ture: Tượng trưng cao độ cho việc giải thoát tâm linh, đưa con người chúng ta thoát ra khỏi khái niệm chật hẹp về đời sống tâm linh. 
   * Svaha: Đó là lời cầu chúc.
 

D. Mô tả cơ bản về Lục Độ Mẫu Tara:
 

Thân thể có màu xanh lá cây, vì đó là vị Thần của rừng xanh (forest goddess). Có tài liệu ghi là trang phục quần áo màu xanh, làm bằng lá. Phát ra tiếng như chim hót, phát ra âm thanh như tiếng thác đổ, phát ra âm thanh thú dữ.

   * Trang sức: đầu đội mũ hoa, tóc búi cao, tai đeo khuyên vàng, cổ đeo vòng đá quý. 
   * Y phục: như vừa tả ở trên.
   * Tư thế Phật mẫu Tara: tay trái cầm bông hoa sen xanh, ở trên tầm ngực, tay phải cũng cầm một bông hoa sen xanh, uốn cong.
 


Qua 4 phần để Quán Tưởng, em thiết nghĩ cũng là một công việc khá nặng nề cho quý độc giả. Việc này có lẽ cũng đủ để làm cho một quý độc giả bình thường Định Tâm.

Cách tập này có thể làm cho quý độc giả định tâm được trong một thời gian tương đối dài.

Mandala (đàn pháp) chỉ là một công cụ để đưa quý độc giả đến định tâm. Trên nguyên tắc, chức năng của đàn pháp đến đây có thể coi như đã hoàn tất. Tuy nhiên, có thể do vô tình, hoặc cũng có thể do một số quý độc giả có trí tuệ hơn người, thì họ lại nâng đàn pháp lên một tầng cao mới, đó là quán.

Thật vậy, việc quán tưởng trong Mandala Tây Tạng, có thể dẫn tới hai con đường:

- Đưa đến những kiến thức xuất thế gian.

- Ngược lại nếu không biết sử dụng và có những tác ý mang nặng tính cách dục giới, thì nó sẽ đưa mình đến một ngã khác như trường hợp thực tế sau đây: Có một người tu theo Mật giáo Tây Tạng và hãnh diện kể rằng họ đã sử dụng chú Đại Tùy Cầu, chú vào một chai nước, sau đó dùng nước này để chữa bệnh cho chó và cả cho người nữa. Vẫn theo người này cho biết, chú Đại Tùy Cầu này (hình như có nguồn gốc từ thầy Minh Đức) rất linh nghiệm, chữa gì cũng khỏi.

Trên đây chỉ là một số tư tưởng căn bản của Mandala Tây Tạng. Những quan điểm dùng Mandala để chữa bệnh chó, bệnh người, để thư, phù, yếm, đối, tác pháp người mình không ưa là một quan điểm, quá mang tính thực dụng, hạ thấp giá trị của Mandala Tây Tạng.

Thực sự Mandala dùng để làm gì?

CTR xin được trích dẫn một số câu phát biểu của những người có thẩm quyền về công năng của Mandala Tây Tạng.

"Chỉ trong Mật Giáo Tây Tạng, đồ hình Mandala mới thật sự phát triển, trở thành một nghệ thuật độc đáo, nhằm phục vụ cho nhu cầu hỗ trợ Thiền Định".

"Một Mandala thường được tạo nên để hỗ trợ cho việc Thiền Định".

"Các Mandala có một chức năng tự tính (intrinsic) và phổ quát (universal) về cách thực hành Thiền Định. Đây là phương tiện Thiền Định rất uy lực, để vượt qua các nhận thức và tri kiến sai lạc. Chuyển hóa nhận thức hỗn độn thành Trí Tuệ và thế giới Giác Ngộ, Hỉ, Lạc."


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.
 

Qua những phát biểu trên, CTR mong quý độc giả xác định tư tưởng, đánh giá đúng mức công cụ Mandala Tây Tạng, trong việc giúp mình Quán Chiếu, tập trung tư tưởng, để đưa đến Định Tâm.

Hy vọng quý độc giả không ngộ nhận Mật giáo Tây Tạng và trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy.

Bài viết này chỉ nhắm mục đích duy nhất là giúp quý độc giả sử dụng Mandala Lục Độ Mẫu, như một công cụ để tập luyện Định Tâm. CTR không bàn tới những thông tin khác liên quan đến Mandala vì không muốn làm cho quý độc giả phân vân, bối rối, mất phương hướng … Đó là điều tối kỵ cho việc tập trung tư tưởng.

Rất mong nhận được sự phản hồi của quý độc giả trên thực tế.

Trong bài viết tiếp, CTR sẽ trình bày những phần tiếp theo của Mandala Lục Độ Mẫu, rất mong quý độc giả quan tâm theo dõi.

Kính chúc quý độc giả tu tập thành công!









Thiền Định lý thuyết 2

              
               ứ n g d ụ n g 7 b i ế n h à n h t â m s ở
                                                                        t r o n g  t h i ề n  đ ị n h

 

Trước khi tiếp cận về phần "Thiền Định lý thuyết 2" CTR xin trao đổi cùng quý độc giả vài nét chung chung về vấn đề Thiền Định. Nói theo ngôn từ của Phật Giáo thì số lượng các trường phái Phật Giáo ngày hôm nay còn nhiều hơn lá trong rừng. Chùa chiền mọc lên như nấm sau mưa, nhưng thực tế chúng ta thấy, hình như ít người tu đạt được kết quả (hay là có thể có những kết quả mà chúng ta không được biết).

Về tài liệu tu tập thì ngay cả các trường phái cùng là Phật Giáo Nguyên Thủy, cũng sử dụng những loại tài liệu khác nhau.

Có rất nhiều tài liệu gọi là Vi Diệu Pháp. Điều rắc rối là trong một tài liệu Vi Diệu Pháp, thì cũng có đầy dẫy những mâu thuẫn đến mức vô lý, không thể hiểu được. Người dịch sách thì có sao họ cứ dịch như vậy. Do đó, có rất nhiều câu, nhiều chữ, nhiều phần bị trùng lấp, đối nghịch. Điều này làm cho người xem vô cùng mất thời gian, thậm chí là không thể hiểu được … Những Tôn Giáo khác thông thường họ chỉ có một vài tài liệu chứ không thiên kinh vạn quyển như Phật Giáo, do đó khi làm công việc khảo cứu những tài liệu này, CTR cố gắng hết sức để gạn lọc. Hy vọng có thể cung cấp cho độc giả những tài liệu mang tính nhất quán và trung thực nhất. Dù rất nỗ lực nhưng đây chỉ là một hy vọng chứ không phải là một sự thật. Rất có thể CTR còn sai lầm rất nhiều vấn đề, và chưa chắc gì việc khảo cứu, sắp xếp, hệ thống hóa … đã đạt đến một mức độ đáng tin cậy nào đó.

Nếu quý độc giả có sử dụng những tài liệu của Vi Diệu Pháp để đối chiếu, thì quý độc giả sẽ thấy tính chất không thống nhất của các tài liệu. Mặt khác, quý độc giả cũng đừng quá âu lo khi đọc hoặc khảo cứu những tài liệu
Vi Diệu Pháp mà thấy mình hiểu rất ít hoặc chẳng hiểu gì cả.

Với kinh nghiệm nhiều năm làm công việc khảo cứu, CTR hy vọng đã vận dụng được một số ý tưởng cơ bản của Vi Diệu Pháp để ứng dụng vào thực tế hành Thiền.

Việc Định Tâm là một bài toán khó giải cho bất cứ ai là con người. Do đó, Vi Diệu Pháp có một hệ thống riêng của mình, để sắp xếp các loại Tâm của các Thực Thể. Cách chia này chúng ta không thấy trong khoa học hiện đại ngày hôm naỵ


     * Chia theo Cảnh Giới:
     1. Dục Giới
Tâm 
     2. Sắc Giới Tâm 
     3. Vô Sắc Giới Tâm 
     4. Siêu Thế Tâm
 

     * Chia theo Tính chất riêng:
     1. Bất Thiện Tâm
     2. Thiện Tâm
     3. Dị Thục Tâm
     4. Duy Tác Tâm

     * Chia theo Giá trị đạo đức:
     1. Bất Thiện Tâm
     2. Vô Nhân Tâm
     3. Tịnh Quan Tâm

     * Chia theo Tầm vóc Tâm:
     1. Tâm Vương
     2. Tâm Sở
  
     * Chia theo Mục đích Tái Sinh:
     1. Dị Thục Tâm
     2. Duy Tác Tâm

     * Chia theo Căn Nhân:
     1. Hữu Nhân
     2. Nhân
 
Rất có thể còn những cách chia khác, ở những tài liệu
Vi Diệu Pháp khác.

Những quý độc giả ít có kinh nghiệm về lý thuyết Phật Giáo, đặc biệt là về những tài liệu Vi Diệu Pháp sẽ cảm thấy bối rối mất phương hướng, khi thấy cách sắp xếp, chia chẻ các loại Tâm như trên. Lý do là vì có nhiều tài liệu Vi Diệu Pháp, mỗi cuốn lại do một luận sư viết ra, mỗi luận sư lại có những nhận xét, cách suy nghĩ, cách sắp xếp khác nhau.

CTR sẽ giải thích để quý độc giả làm quen với cách sắp xếp các loại Tâm như trên. Hiểu biết các loại Tâm là điều rất cần thiết, nếu quý độc giả có ý định đi trên con đường dài Thiền Định của truyền thống Phật Giáo Nguyên Thủy.

Sau đây CTR sẽ minh họa bức tranh tổng thể về vấn đề này.

Theo tài liệu Vi Diệu Pháp, một Thực Thể như con người chẳng hạn, có cấu tạo Tâm là vài trăm Tâm. Càng lùi lại nấc thang tiến hóa thì số lượng Tâm càng tăng lên và ngược lại.

Quý vị xem lại bảng chia Tâm nói trên, và cố gắng nhớ được những tư tưởng cơ bản.

Bây giờ lấy thí dụ một đơn vị Tâm
là: Tâm "Sân" (từ bình dân gọi là cáu giận), và chúng ta bắt đầu giải thích theo quan điểm Vi Diệu Pháp.

Tâm này xét ở tiêu chuẩn đạo đức, được sắp vào Bất Thiện Tâm, xét ở tiêu chuẩn Cảnh Giới, thì Tâm này chỉ hiện hữu ở cảnh Dục Giới (tất nhiên bao gồm cả cảnh Thiên Dục Giới), nhưng chắc chắn Tâm này không thể hiện hữu ở cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc. Lý do là vì ở Sơ Thiền Hữu Sắc có một Tâm là khắc tinh, là đối nghịch và làm cho Tâm "Sân" triệt tiêu: Đó chính là Tâm "Tầm". Do đó nếu có ai cho là họ có trình độ Tam Thiền, Tứ Thiền gì đó mà còn có thể đánh nhau với con Rồng hoặc với các … vị Phật vì lý do nào đó, là hoàn toàn không có cơ sở.

Nếu xét ở góc cạnh Tái Sinh của Tâm
"Sân", thì chắc chắn Tái Sinh sẽ xảy ra. Xét ở căn Nhân, thì Tâm "Sân" là Hữu Nhân …

Nói một cách vắn tắt thì gần như bất cứ một Tâm nào đó, cũng có thể xét ở rất nhiều góc cạnh. CTR hy vọng lối chia chẻ này sẽ không quá phức tạp khó hiểu và tạo ra gánh nặng kiến thức dư thừa làm khổ tâm, khổ trí người tu Thiền Định. Nếu chúng ta lấy mục đích là sự Giải Thoát, là Niết Bàn, là khô cạn các Phiền Não … thì việc hiểu biết cặn kẽ các loại Tâm về tất cả các mặt, rất có lợi cho người tu Thiền Định.

Người tu Thiền Định theo truyền thống Phật Giáo, ở cảnh giới Sơ Thiền Hữu Sắc, thì Tâm Vương Sơ Thiền Hữu Sắc câu hữu với các Tâm Sở là: Tầm, Tứ, Nhất Tâm, Hỉ, Lạc, nhưng sự thật là sử dụng trên 30 đến 40 Tâm Sở. Nếu không hiểu rõ điều này; cụ thể là chấp vào thành quả của Thiền Định, thì tạo ra Thiền Thiện Tâm, đưa đến kết quả là: Thiền Thiện Dị Thục Tâm, có nghĩa là đưa đến Luân Hồi Sanh Tử. Nhưng nếu hiểu rõ cách sử dụng các Tâm này, hành Thiền với Tâm trạng Căn Nhân, Duy Tác, thì hệ quả hoàn toàn khác. Rõ ràng rằng cùng tu Thiền Định, nhưng nhờ có kiến thức
Vi Diệu Pháp nên đã tránh được một hệ quả, mà hầu hết người ta vô tình đều mắc phải. Việc hiểu rõ các yếu tố Tâm, tuy vất vả thật, nhưng hệ quả cũng rất xứng đáng.

Sau khi chúng ta có những khái niệm tối thiểu, về cái lợi cái hại của việc hiểu biết các Tâm trong Vi Diệu Pháp, CTR sẽ bắt đầu trình bày khoảng trên 30 Tâm Sở khi chúng ta tu Sơ Thiền Hữu Sắc.
 

.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

T â m  S ở  l à  g ì ?
  
là những Tâm nhỏ, có 4 đặc tính sau đây cùng với Tâm Vương.
 

Cùng Sanh với Tâm Vương.
Cùng Diệt với Tâm Vương.
Cùng một Đối Tượng với Tâm Vương.
Cùng Căn với Tâm Vương.
 
Trước nhất, CTR xin trình bày 7 Biến Hành Tâm Sở:
Xúc / Thọ / Tưởng / / Nhất Tâm / Mạng Căn / Tác Ý

. . . . . . . . .
 
ý  n g h ĩ a  c ủ a  t ừ n g  t ừ  n g ữ
 
Xúc: tiếp cận, chạm đến đối tượng. Đối tượng có thể là tinh thần hay vật chất. Nó là yếu tố đầu tiên khi chúng ta tiếp cận với đối tượng bằng các giác quan bình thường. Theo khoa học thì việc nhìn thấy Mặt Trăng là do các quang tử (Photon) của Mặt Trăng đụng chạm vào con mắt chúng ta. Do đó, người ta sắp xếp xúc là yếu tố đầu tiên.

Thọ: sau khi tiếp xúc với một đối tượng tinh thần hoặc vật chất, thì chúng ta nhận lãnh, Thọ lãnh một cảm giác nào đó, thí dụ: chúng ta Thọ nhận cảm tưởng ánh sáng Mặt Trăng là đẹp, Thọ này gọi là "Thọ Lạc". Tiếp cận với một cảnh tai nạn xe khủng khiếp, chúng ta "Thọ Khổ".

Tưởng: ở đây là nhận biết đối tượng.
: là suy nghĩ về đối tượng, định đoạt các hành động sau này.
Nhất Tâm: chú ý trên một đối tượng.
 Mạng Căn: nuôi dưỡng đối tượng.
Tác ý: là đưa Tâm đến đối tượng, cũng như một người lái con thuyền,
đưa con thuyền tới đích.

. . . . . . . . .

Cách sử dụng 7 Biến Hành Tâm Sở khi Thiền Định:

Khi quý độc giả ít nhiều đã Định Tâm,

hãy chú Tâm để quán sát từng Tâm một của 7 Tâm Sở nói trên.



Khi chúng ta Quán Tưởng Mặt Trăng chẳng hạn, Tâm này gọi là Tâm "Tầm".
Nó có nghĩa là tìm kiếm, đụng chạm tới Đối Tượng là Mặt Trăng. Sau đó,
chúng ta cảm nhận được tình cảm phát sinh khi Quán được hình ảnh Mặt Trăng.
Tâm này gọi là "Thọ" … Quý độc giả cứ tiếp tục như vậy với 30 – 40 Tâm Sở.
Bộ não chúng ta sẽ trở nên quá tải với cách thức này và có thể đưa chúng ta Nhập Định. 

.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Như phần trước CTR có trình bày, việc Quán Sát các Tâm Sở này rất là có lợi cho người tu Thiền Định. Vì chúng ta phải chú Tâm vào quá nhiều vấn đề, liên tục không đứt quãng. Chủ đích chúng ta là tu Định, thì bây giờ có quá nhiều đối tượng để tu Định. Việc tìm hiểu ý nghĩa của nhiều loại Tâm Sở, vô tình chúng ta đang tạo ra một loại tu quán. Không những vậy, chúng ta còn có thể phát hiện ra nhiều Tâm khác mà sách vở chưa nhắc tới. Mặt khác, chúng ta biết ngăn chặn những Tâm không thích hợp, những Bất Thiện Tâm lén lút xuất hiện trong lúc chúng ta tu Thiền Định.

Căn cứ vào kinh nghiệm của các Lạt Ma Tây Tạng, thì việc quán xét trên 30 Tâm Sở, trở thành một dạng Đàn Pháp. Cách này có thể làm cho ai cũng Nhập Định được, không cần thiết phải có tư chất thông minh.

CTR lạc quan tin tưởng rằng, với cách tập này nhiều quý vị sẽ thành công.

Trong bài viết tới CTR sẽ tiếp tục trình bày những Tâm Sở còn lại.

Kính chúc quý độc giả được nhiều may mắn.