Pages

Cuộc họp báo 19 Tiêu Cục Xuyên Vân Kiếm Pháp




         
          Tốc Hành Tâm (Javana) &
              sự khác biệt khi:  N H Ậ P  Đ Ị N H  T H I Ề N  Q U Á N  *  T H I Ề N  T Ư Ở N G


BỐI CẢNH
Địa điểm được chọn để họp báo lần này là quán cà phê Apocalypse ở Thảo Điền Quận 2, TPHCM. Quán có khoảng không xanh ngát phóng khoáng, lãng mạn và yên bình. Những chú chim sẻ chuyền cành ríu rít hót trong nắng sớm, tiếng gió rì rào qua kẽ lá. Buổi sáng êm đềm.

Với dáng vẻ nhất quán, khỏe mạnh lanh lẹ, Tam Tiểu Thư bước nhanh trên các bậc thang. Với thái độ nghiêm trang và kính cẩn, cô chắp tay trước trán chào các cử tọa. Vẫn với ánh mắt hiền hòa, nụ cười đôn hậu vốn có …

- Tam Tiểu Thư:
Em xin kính chào toàn thể quý cử tọa. Thật là vô cùng biết ơn và xúc động khi được quý cử tọa đông đảo tham dự nhiệt tình qua những bài comments. Đây chính là nguồn cảm hứng và động lực, thúc dục em phải cố gắng hơn nữa trong công việc của mình. Do khả năng của em còn hạn chế, nên rất mong được quý cử tọa chỉ bảo những sai sót. Em xin đan cử trường hợp điển hình: Quý cử tọa Ì Ạch không những đã nhiệt tình đóng góp mà còn chỉ ra những sai sót, thậm chí còn chỉ bảo cả cách khắc phục. Cảm động nhất là ngoài tình cảm nhiệt tình và xây dựng, còn động viên em bằng những lời nói như "ráng cố gắng nhiều nha".

Hôm nay em xin giới thiệu những quý cử tọa đã đưa ý kiến đóng góp như: Mưa Thu ngày 9/9, Hổ nước tương ngày 10/9, Tu Phong Son ngày 13/9, Ì Ạch ngày 12/9, Nặc Danh ngày 7/9 … và nhiều quý cử tọa khác.

Bắt đầu buổi họp báo, em xin đăng tải ý kiến của Mưa Thu ngày 9/9.

- Mưa thu: @ Cuộc họp báo 18: Cách tu PG Nguyên Thủy

Tam Tiểu Thư thân mến,

Tam tiểu Thư có nhiều cuộc trao đổi bên lề. Bữa nay cho em hỏi một câu cũng ... bên lề.

Bài viết này quá là hay, xuất thần. Em đọc đi đọc lại từng câu từng chữ và có cảm giác bài viết này phải tới từ một cảnh giới khác. Bài viết phân tích về pháp môn rất thấu đáo và trí tuệ. Người ta đồn rằng Tổng Quản là A La Hán. Tam Tiểu Thư giới thiệu mình là phát ngôn viên của Tiêu Cục Xuyên Vân kiếm pháp; vậy nên em muốn hỏi Tổng Quản có phải là A La Hán hay không? Em thực sự rất tò mò về nhân vật Tổng Quản. 

Em mong nhận được câu trả lời có tính chất "sự thật không che đậy" của Tam Tiểu Thư. Cám ơn TTT rất nhiều.

Kính

 
- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Mưa Thu.

Đúng như quý cử tọa nhận xét, bản thân em chỉ là chiếc gạch nối không hơn, không kém. Bài viết mà được quý cử tọa có hảo cảm đó, chính là tài liệu lấy ra từ cuốn Tạp Thư. Em xin thưa lại, cuốn Tạp Thư chỉ là một cuốn sách, không có bìa, không có tác giả, được mua ở chợ trời. Em chỉ biết đầu đề cuốn sách là Tạp Thư, có nghĩa là ở trong đó viết đủ thứ: từ nấu ăn, sửa điện, thiết kế đường ống nước, cập nhật về thuế VAT, thuế cầu đường, trước bạ xe … Tóm lại cái gì cũng có.

Kính thưa quí cử tọa, như lời thưa của nhóm CTR, tất cả những bài viết chỉ là sản phẩm của hư cấu, lãng mạn của trí tưởng tượng. Do đó, tất cả các nhân vật, các sự kiện, tất cả là… chỉ là giả tưởng thôi. Bản thân em cũng chỉ là hư ảo. Tất cả những bài viết không được một cơ quan hữu trách nào xét duyệt, do đó không có giá trị ở bất cứ lãnh vực nào … Họa chăng, chỉ có giá trị giải trí.

Tuy nhiên khi quý cử tọa đặt ra vấn đề "Sự thật không che đậy" (mà CTR coi như là khẩu hiệu của mình), thì quả thật làm cho em cũng khá bối rối, không lẽ mình lại mâu thuẫn với mình! Con người thì ai cũng phải có một chút lương tâm lành mạnh, thế nên em không biết phải trả lời làm sao, để cho lưỡng toàn. Em xin mượn lời hai bài thơ mà em nghĩ ai cũng biết, nếu em có nhớ lầm lẫn rất mong được quý cử tọa tha lỗi.

Tôn Phu Nhân Qui Thục

     Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
,
     Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông,
     Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
     Về Hán trau tria mảnh má hồng,
     Son phấn thà cam dày gió bụi,
     Đá vàng chi để thẹn non sông,
     Ai về nhắn với Châu Công Cẩn,
     Thà mất lòng anh được bụng chồng.
                                   (Tôn Thọ Tường)

Bài họa:


     Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
     Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông,
     Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,
     Duyên về đất Thục đượm màu hồng,
     Hai vai tơ tóc bền trời đất,
     Một gánh cương thường nặng núi sông,
     Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết,
     Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng,
                                   (Phan Văn Trị)

Kính thưa quý cử tọa Mưa Thu, theo ý quý cử tọa thì em nên theo phương án nào?

- Hổ nước tương: @ Cuộc họp báo 18: Cách tu PG Nguyên Thủy

Đây là những ý niệm vô cùng trừu tượng, nó đòi hỏi hành giả phải có công phu sâu dày và ít nhiều kinh nghiệm thì mới có thể hiểu nổi? Nên xin Tam Tiểu Thư và Ông Tổng Quản với chiếc áo vải sờn vai, trình bày thêm chi tiết về sự khác biệt diễn tiến của:
     1. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Nhập Định và ...
     2. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Quán đạo Quả, đạo Tâm. (Tứ Thánh).
     3. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Tu Thiền Tưởng (chứng Niết Bàn).
Nếu có được hình vẽ minh họa chắc sẽ dễ hiểu hơn nữa?
 

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Hổ nước tương.

Hân hạnh được quý cử tọa nhắc đến đề tài "Nibbana" (Niết bàn). Em xin đóng góp chút ít ý kiến, mà em đọc được trong cuốn Tạp Thư.

Nếu quý cử tọa đồng ý với em rằng, những gì mà người ta đã mặc định quy ước, theo mô hình của Phật Giáo Nguyên Thủy, Niết Bàn thực sự chỉ là một trạng thái tinh thần, một quan điểm chủ quan về hạnh phúc của một cá nhân nào đó. Nó xuất phát từ trạng thái tâm lý chủ quan (em vẫn còn nhớ tới lời khuyên của cử tọa Ì Ạch, nhưng em không biết làm sao để trình bày đơn giản hơn, em mong quí cử tọa Ì ạch tha lỗi).

Nếu căn cứ trên quan điểm mặc định này, thì dường như có lẽ có nhiều trạng thái Niết Bàn tùy theo quan điểm chủ quan của từng Thực Thể. Thậm chí ở cảnh Dục Giới, một Cảnh Giới mà tính chất âm dương, nam nữ … là một hiện tượng khách quan nếu nói trên quan điểm triết học Lão Tử. Dường như Phật Giáo cũng đề cập tới bằng từ ngữ Bản Tánh Sắc. Khi có đầy đủ những yếu tố hữu duyên (có nghĩa là tạm thời), hữu lậu, đối tượng của dục vọng … thì nếu hai Thực Thể nào đó, một nam, một nữ, tạo được trạng thái đối lưu thì gọi là tương sinh tương khắc (nói theo kiểu Lão Tử). Còn theo ngôn từ thế gian thì gọi đó là sự đăng quang của tình yêu … Cho dù mang tính chất hữu duyên, có nghĩa là tạm thời, nhưng những người yêu nhau thực sự, họ đã tìm được Niết Bàn … dù chỉ trong giây lát.

Kính thưa quý độc giả Hổ nước tương.

Em xin cám ơn quý cử tọa đã cho phép em có cơ hội để trình bày về lộ trình Luồng Tâm Thức. Trong sự hạn hẹp của việc đóng góp ý kiến, em không thể trình bày quá chi tiết về đề tài mà quý cử tọa đã đề cập đến. Em chỉ xin tóm tắt một số tư tưởng cơ bản. Trong tương lai, em hy vọng khi nhóm CTR trình bày về cách tập luyện Thiền Định của Phật Giáo Nguyên Thủy, thì việc quý cử tọa đề cập đến, sẽ được đề cập chi tiết hơn. Gần đây, em cũng được một số quý cử tọa tin cậy nên có góp ý với em là nên đưa ra một "Giáo trình tập luyện Thiền Định". Thật sự, nhóm CTR đã có ý định này từ lâu, nhưng e ngại là không đảm trách nổi, vì công việc quá to lớn. Thực tế thì trong suốt chiều dài lịch sử vài ngàn năm, em chưa thấy ai làm việc này cả.

Về vấn đề Luồng Tâm Thức, trước nhất em xin nhắc lại rằng quý cử tọa cần phân biệt lộ trình của Luồng Tâm Thức và Tốc Hành Tâm. Quý cử tọa có thể xem lại những bài mà CTR đã có dịp trình bày.


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.
 
     Lộ trình Tâm còn gọi là CITTA VITHI. Đây là một tiến trình gồm có 16 thao tác tư tưởng. 

     Trong khi cái mà quý cử tọa gọi là JAVANA (Tốc Hành Tâm) thì gồm có 7 diễn tiến.

     Theo quan điểm của Phật Giáo Nguyên Thủy, 

     thì chúng ta có khả năng tri giác hai loại Đối Tượng, đó là:

     * Đối Tượng ở thế giới khách quan (là một đối tượng vật chất bất kì).
     * Đối Tượng chủ quan (đối tượng xuất hiện trong tâm lý chúng ta).

     Khi chọn một Đối Tượng: hoặc Tinh Thần hoặc Vật Chất, 
     nếu mức độ chú ý vào đối tượng đủ mạnh, thì chúng ta sẽ Nhập Định

Khi Tâm đứng im ở những giai đoạn của Tốc Hành Tâm, người ta gọi đó là Định hay Nhất Tâm. Từ ngữ chuyên ngành thì gọi cách tập luyện này là Tu Định hoặc Tu Chỉ; nghĩa là làm cho Tâm đứng lại. Trạng thái Tâm đứng im gọi là Nhập Định, Tốc Hành Tâm. 

     Suy nghĩ trong trạng thái này thì gọi là Quán Tưởng (Gồm 2 phần):
     * Quán Sắc: là nghĩ về cái Thân vật chất của mình.
     * Quán Danh: là nghĩ về cái Thân tinh thần của mình. 

Khi suy nghĩ như vậy thì từ từ người ta sẽ tìm ra nguyên nhân gì đã cấu tạo ra đời sống hiện tại. Họ tự thấy đó là do lòng ham muốn (Ái) và muốn nắm giữ trạng thái này (Thủ), do Nghiệp Lực của kiếp trước, do thức ăn đã tạo ra đời sống hiện tại … 

Càng suy tưởng trong lúc Định (chứ không phải suy nghĩ trong cuộc sống bình thường) thì càng "vỡ lẽ" những "Sự Thật", càng ngày những chi tiết càng nổi bật. Cuối cùng phát hiện ra rằng các hiện tượng của đời sống hiện tại, đều mang tính chất: Vô Thường / Vô Ngã / Khổ Não.

Chẳng có hạnh phúc nào là thường hằng vĩnh cửu. Hạnh Phúc Thế Gian chỉ mang tính chất tạm thời, bắt nguồn từ Dục Vọng ... > Cứu Cánh cuối cùng là Khổ Đau.

Trong lúc tu Thiền Định, người tu sử dụng khả năng Định Tâm để quán xét, suy nghĩ về nhiều hiện tượng khách quan của thế giới tự nhiên. Thí dụ như Quán về 10 Phiền Não cơ bản. Qua quá trình tập luyện, khả năng đạt được một vị trí nào đó thì gọi là Đạo (Maggacittam), và khi biết được vị trí của mình thì gọi là Quả (Phalacitta)


Lộ trình của Javana như sau:

1
.Parikamma  2.Upacara  3.Anuloma  4.Gotrabhu  5.Magga  6+7.Phala
   Chuẩn Bị             Cận Hành        Thuận Thứ       Chuyển Tánh     Đạo               Quả


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

 Kính thưa quý cử tọa Hổ nước tương

Bài Luồng Tâm Thức có lẽ là một bài viết hay nhất của tài liệu Vi Diệu Pháp và đồng thời cũng là bài khó nhất vì những lý do sau đây:

* Bài này đòi hỏi người đọc phải có những kiến thúc về các loại Tâm, các loại Sắc.

* Mặt khác, cần phải có những kinh nghiệm, thực chứng của người tu Thiền Định ở các lớp Định. Chỉ trong tình trạng này, thì độc giả mới phát hiện ra tính chất huy hoàng, lộng lẫy, rực rỡ của chương Lộ Trình Tâm. Độc giả sẽ phát hiện ra bài lộ trình tâm nói riêng và những bài viết khác của VDP hoặc Tam Pháp Độ Luận … là kết quả kinh nghiệm thực tế của người tu Thiền Định. Nó được viết ra bởi việc kinh qua thực tế người tu Thiền Định. Chỉ có người tu Thiền Định thực sự, thực chứng thì mới có thể hiểu nó nói gì. Em nghĩ là dù tu Thiền Định bao lâu, theo bất cứ ở trường phái nào, mà nếu không Thực Chứng, thì thấy tài liệu này không có giá trị gì cả. Ngược lại, đối với người tu Thiền Định Thực Chứng, dù ở bất cứ trường phái nào, lại thấy nó là một máy định vị dẫn đường, là một tấm bản đồ có định hướng, là chiếc la bàn, là ngôi sao Bắc Đẩu … dành riêng cho chính mình. Kể cả những vị từng dịch tài liệu này, nếu không Thực Chứng, thì cũng chỉ có thể hiểu giá trị của nó bằng lý thuyết.

Đây chỉ là những nhận xét chủ quan, chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, rất mong quý cử tọa chỉ bảo.

- Tam Tiểu Thư: Sau đây em xin đăng tải ý kiến của 2 Ì Ạch, em xin phép đóng góp từng phần một để chúng ta dễ theo dõi.

- 2 Ì ẠCH: @ Cuộc họp báo 18: ... theo cái gì đúng!

Sau khi được cô 3T ưu ái mời tui uống cà phê sau cuộc họp báo thứ 13. Ra về, lòng tui tràn đầy cảm kích vì sự nhiệt tình và tinh thần làm việc đầy trách nhiệm của cô 3T.

Kính thưa cô 3T cùng tất cả quý cử toạ! 2 ì ạch tui xin phép được kiến nghị và tham vấn cô 3 về một vài vấn đề đang rất bức xúc trong lòng tui. Thưa cô 3, đã gần 2 tháng rồi tui không có tập tành gì cả, những sự thật mà CTR "phanh phui" về một cõi Tịnh độ 100% Made in China, và chứng minh nó bằng những dẫn chứng từ "chính sử" đã làm tui choáng váng và thực sự là tui HOÀN TOÀN MẤT PHƯƠNG HƯỚNG. Đó là một điều vô cùng tệ hại đối với tui, một kẻ tu hành chưa ra môn ra khoai gì nhưng rất nghiêm túc. Cú sốc này chắc có lẽ không chỉ riêng tui mà còn cho rất nhiều người muốn tin vào hai chữ SỰ THẬT.


- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

Qua phần đóng góp của quý cử tọa, em có cảm nhận là dường như quý cử tọa ít nhiều có thái độ bi quan, đưa đến trạng thái “HOÀN TOÀN MẤT PHƯƠNG HƯỚNG” thậm chí là "choáng váng", "tạo ra một trạng thái tệ hại đối với tui
". Quý độc giả còn minh họa như một cú sốc.

Em xin mạn phép đóng góp như sau:

Quý cử tọa thử nghĩ xem, nếu chúng ta cứ tiếp tục lầm lẫn sử dụng hàng nhái suốt cuộc đời của mình, như bao nhiêu thế hệ, trong mười mấy thế kỷ đã trôi qua, thì hệ quả sẽ ra sao? Đối với người đi trước, thì đó là những bàn đã thua một cách tuyệt đối và thuyết phục. Còn quý độc giả và em … thì sẽ có những bàn thua trông thấy, không thể tránh được, tất yếu phải xảy ra. Nhưng một khi quý độc giả cùng em, phát hiện ra hàng Made in China, thì chúng ta có cơ may là ít nhất cũng "huề" và hoàn toàn có nhiều khả năng "thắng". Do đó, em cho là tình hình hôm nay của chúng ta, đáng lạc quan hơn tiền nhân của chúng ta trong quá khứ. Vì vậy chúng ta nên lạc quan và hy vọng, vì tương lai đầy hứa hẹn! Em nói như vậy không biết quý cử tọa nghĩ sao? Chúng ta may mắn hơn cổ nhân rất nhiều, nhờ sự nổ lực của
quý cử tọa cùng em, chúng ta đã tìm ra con đường đi đúng … Em rất mong quý cử tọa nhìn thấy phương hướng để đi, nhận ra rằng tình trạng của mình tốt hơn và tin vào một tương lai tốt đẹp.

- 2 Ì ẠCH: @ Cuộc họp báo 18: ... theo cái gì đúng!
 
Cá nhân tui cho rằng, những SỰ THẬT mà CTR đưa ra đã là quá đủ, không cần phải bàn luận gì thêm nữa (cá nhân tui thôi nghen cô 3) và đã đến lúc CTR nên đưa ra một "Chương trình luyện tập Thiền Định" hoàn chỉnh để hướng dẫn những người hữu duyên cách Thiền Định một cách bài bản có hệ thống, nhằm giúp cho những người bình dân mà bày đặt tu Phật như tui được tu – tập theo đúng cách, đúng cái ĐẠO của ông Thích Ca (Ấn Độ), để còn mong đến một kiếp nào đó đến được bến bờ GIÁC NGỘ. Chớ còn tu theo cái kiểu ông Thích Ca (Trung Quốc) e rằng đích đến của tụi tui sẽ là … quán karaoke và GIÁC cái gì sao thấy NGỘ quá dzậy ta. Những bài viết của CTR trên blog tuy là đã khá rõ ràng, nhưng nó mang tính riêng rẽ từng chủ đề, chứ chưa mang tính hệ thống riêng biệt về phương pháp Thiền định từ 1, 2, 3, 4 …và có nhiều bài viết vì phải dẫn chứng, chứng minh bằng khoa học nên dùng nhiều từ Ănglê quá, khiến cho bọn bình dân học dzụ như tui khó mà hiểu nổi (nếu có thể, sau này nếu phải dùng từ Ănglê, tui kiến nghị CTR cố gắng thuyết minh ra tiếng Việt mình sao cho sát ý nhất có thể, để tụi tui … ráng cố gắng hiểu nha).

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

Em được biết nhóm CTR, đã từ lâu có tham vọng, là trình bày 3 vấn đề, mà dường như thuở xưa ngài Sakya Muni từng triển khai trên thực tế: 


          Lý thuyết kỹ thuật tu Thiền Định.
          Lý thuyết kỹ thuật mở Con Mắt Thứ 3.
          Xuất cái Tôi ra đi trước khi Thần Chết đến.

Nếu quý cử tọa có dịp xem lại tiểu sử của một số vị, được mô tả như là Giáo Chủ của các trường phái, thì dường như họ có một cái chết bình thường như tất cả mọi người. Nôm na mà nói, dường như họ bất lực trước thần chết. Họ đau bệnh, sốt cao, thậm chí có vị không có nấm mồ để chôn. Ở đây em muốn nói tới một vấn đề, là dường như các vị ấy đã không có một cách nào để giải quyết vấn đề cái chết khác hơn so với con người bình thường. Em cho là, có lẽ các vị nói trên thiếu khả năng kỹ thuật về 3 vấn đề mà chúng ta nêu ra ở trên, cho nên (theo như Huyền sử hay Lịch sử), họ phải chấp nhận cái chết như mọi người bình thường. Trên tinh thần dè dặt của khoa học, rất có thể họ có những kỹ năng khác mà chúng ta chưa rõ. Tuy nhiên trong 3 kỹ năng nói trên, thì ít nhất chúng ta có thể tìm thấy kỹ năng thứ nhất trong những bộ luận của trường phái nguyên thủy.

Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

CTR tự nhận ra rằng viết
"Chương Trình luyện tập Thiền Định" là một công việc quá to lớn, vì từ xưa đến nay nhân loại chưa từng làm. Công việc này có thể kéo dài đến chết, có nghĩa là phải trải qua nhiều thập kỷ, bởi lẽ ít nhất có hai công tác phải làm song song: 

Khảo cứu các tài liệu, sưu tầm thông tin, phân tích, tổng hợp.
Sau khi có những giả thuyết, lý thuyết, phát biểu, công thức … cần phải đưa vào thử nghiệm trên thực tế để kiểm định tính cất hiệu quả.

Vì lý do nói trên, có lẽ chỉ có một con đường duy nhất là con đường thực nghiệm, sẽ là cái thước đo thực tế đáng tin cậy nhất. Rất mong được quý cử tọa thực sự chia sẻ công việc thử nghiệm bằng thiền định qua từng phần của bài viết. Em không thể hình dung hết những thách thức mà nhóm CTR sẽ phải trải qua, mặc dù việc này đã từng triển khai qua nhiều thập kỷ. Cũng như quý độc giả, CTR cũng phải lo về đời sống của chính bản thân mình, nên sẽ là thách thức khi muốn khảo cứu từng chi tiết, từng vấn đề. Do đó việc đưa ra, cụ thể là "Chương trình luyện tập Thiền Định
" hay nói đúng hơn là một giáo trình Thiền định là một tham vọng, nhưng dẫu sao CTR cũng hy vọng sẽ biến thành thực tế.


 - 2 Ì ẠCH: @ Cuộc họp báo 18: ... theo cái gì đúng!

Những bài viết của CTR trên blog tuy là đã khá rõ ràng, nhưng nó mang tính riêng rẽ từng chủ đề, chứ chưa mang tính hệ thống riêng biệt về phương pháp Thiền định từ 1, 2, 3, 4 … và có nhiều bài viết vì phải dẫn chứng, chứng minh bằng khoa học nên dùng nhiều từ Ănglê quá, khiến cho bọn bình dân học dzụ như tui khó mà hiểu nổi (nếu có thể, sau này nếu phải dùng từ Ănglê, tui kiến nghị CTR cố gắng thuyết minh ra tiếng Việt mình sao cho sát ý nhất có thể, để tụi tui … ráng cố gắng hiểu nha).

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

Điều nhắc nhở của quý cử tọa 2 Ì Ạch thật vô cùng là quý giá. Sở dĩ bài viết của CTR có nhiều tiếng nước ngoài mà không dịch ra tiếng Việt Nam, vì em e ngại là khi dịch ra tiếng Việt Nam, có những quý độc giả sẽ nghi ngờ là, bản dịch tiếng Việt, cách dịch tiếng Việt, cách sử dụng từ ngữ, có ý đồ làm sai lệch nguyên bản, có thể là mang tính chất ác ý. Kể từ nay, qua đóng góp đầy xây dựng và thiện chí của quý cử tọa, em sẽ cố gắng ít sử dụng từ ngữ nước ngoài. Nếu có sử dụng sẽ mạnh dạn dịch ra tiếng Việt Nam, trong khả năng hiểu biết khiêm tốn của mình. Về vấn đề trình bày, em sẽ cố gắng bằng cách nào đó để thuyết minh, trình bày nặng tính thực dụng theo kiểu văn hóa người Mỹ. Cuối cùng em xin cảm ơn quý cử tọa đã có thiện cảm với nhóm CTR, nên đã chỉ bảo một cách nhiệt tình đầy tính chất xây dựng.

Tam Tiểu Thư chắp hai tay trước trán, nghiêm chỉnh chào tạm biệt cử tọa vẫn với thái độ vui vẻ nhiệt tình, khiêm tốn và nụ cười đôn hậu vốn có …



Lá thư độc giả 7: Đường nào cũng đến La Mã?





          đường nào cũng đến La Mã ?
                              . . .  T ị n h  Đ ộ  c ó  t h ể  đ ứ n g ,  n g ồ i  V ã n g  S a n h  n h ư  ý  .  .  .


Cùng quý độc giả thân thương của CTR blog,

Xin chân thành cảm ơn bạn Hoa Đồng Nội cùng tất cả quý độc giả đã dành thời gian đọc và comment bài " Lá thư độc giả 6: Thực Chứng cõi Tịnh Độ ". Đây là 1 trong những bài viết đã thu hút rất nhiều sự quan tâm (gần 700 lượt người đọc và 29 ý kiến đóng góp).

Sáng nay CTR lại hân hạnh nhận được lá thư thứ hai của bạn Hoa Đồng Nội. Ý tưởng bài viết của bạn rất chân thật, khách quan, và khát vọng trên hành trình tìm cầu chân lý. CTR xin phép được đăng tải nguyên văn lá thư này.


Kính mời quý độc giả theo dõi
Cầu chúc toàn thể quý độc giả bình an, hạnh phúc.

CTR

p/s: Để thấy được toàn bộ bức tranh, xin quý vị bấm vào những links để đọc lại toàn bài & những lời bình v.v...

.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.


Cảm ơn Quý vị đã có những đóng góp ý kiến và nói lên quan điểm và cách nhìn của mình về bài viết: "Thực Chứng cõi Tịnh Độ".

Trong những phần bình luận và bày tỏ quan điểm của Quý vị, có rất nhiều điều đáng để cho Hoa Đồng Nội ghi nhớ, so sánh và suy ngẫm.

Đặc biệt trong những bài comments này, Hoa Đồng Nội thích nhất là bài viết của Hổ Nước Tương. Mặc dù đó là những suy nghĩ trái chiều phản biện lại cách nghĩ, cách nhìn của HĐN. Nhưng HĐN thích những bài viết này của Hổ Nước Tương vì những lời lẽ gãy góc, sắc bén; lý luận chặt chẽ cùng việc đưa ra những ví dụ biện chứng cụ thể để bày tỏ và bảo vệ quan điểm của mình.

Hoa Đồng Nội sẽ không đi vào những tình tiết cụ thể để tranh luận với Hổ Nước Tương mặc dù có những tình tiết tôi vẫn tin là có ở trong các câu chuyện của các Nhí. Ví dụ như câu chuyện: "Cõi Rồng
". Trong câu chuyện cõi Rồng mà HĐN có đọc lại thì những con Rồng trong câu chuyện của Nhí cũng ngốc nghếch như thường, vì mặc dù chúng là những linh vật, nhưng chúng vẫn là ở cõi Súc sinh và đương nhiên là không thông minh bằng loài Người. Hơn nữa, Rồng cũng có con phá phách, có con thì bảo vệ hành tinh trái đất ( theo cách nhìn tâm linh ). Không phải là chỉ có Rồng "mang trọng trách giữ sự điều hòa cho bầu khí quyển, cho trái đất cho nhân loại bằng cách đi đánh gió, đánh bão" như HNT nói.

Tôi có thể vẫn còn thắc mắc về phần độ tử, nhưng tôi có thể tin được vào chuyện những con Rồng. Sở dĩ tôi nói có thể tin được vì tôi đã từng thấy linh ảnh của một con Hổ rất to và đẹp đang ngồi cuối giường của tôi nhìn tôi bằng ánh mắt oán giận thời gian mấy năm trước - khi tôi còn chưa biết đến Phật Pháp là gì. Và cho đến bây giờ, vì vẫn còn trong vô minh nên tôi vẫn chưa hiểu tại sao lại có chuyện này xảy ra đối với tôi. Và tôi nghĩ: Con Người cũng còn có những suy nghĩ và hành động khác nhau thì tại sao các loài vật lại không như vậy?! tôi cũng nghĩ nếu bản thân tôi từng thấy Hổ khi mà tôi chưa tu tập gì thì tại sao lại không có Rồng?

Theo HNT nói thì Nhí không thể bay qua các Lỗ đen giống như câu chuyện của Nhí đã kể hay sao? Tôi nghĩ rằng thực hiện điều đó là tư tưởng, là linh hồn, vậy tại sao không làm được? HNT nói rằng các nhà khoa học còn chưa nghiên cứu được tới đó. Vậy các Khoa Học Gia đã chứng minh được rằng có rất nhiều cảnh giới khác của thế giới tâm linh chưa? Tôi không nghĩ khoa học thì cái gì cũng có thể làm được. Vì khoa học thì chỉ nghiên cứu và chứng minh bằng những hình ảnh mà mắt thường có thể nhìn thấy được, hoặc qua máy móc tinh vi mà con người có thể thấy được bằng hình ảnh vật chất. Đấy là những cái thấy bằng vật chất. Còn cái thấy qua sự định tâm, họ có thấy được không?

Tôi chỉ có thể đồng ý với bạn về phần độ tử. Vì tôi cũng còn đang thắc mắc về chính điều này. Và tôi cũng rất muốn gặp trực tiếp những Người mà đã vượt qua Tứ Thiền Hữu sắc theo tiêu chuẩn của HSTD để hỏi cho ra điều này.

Tôi chỉ muốn đưa ra ý kiến của mình để chúng ta cùng bàn bạc, trao đổi và học hỏi chứ không phải muốn hoàn toàn phủ nhận ý kiến của HNT đâu nhen! Tôi rất muốn nghe thêm ý kiến của HNT cùng quý bạn hữu xa gần để chúng ta cùng đàm luận và tìm hiểu thêm. Cũng có thể cách nhìn của tôi chưa đúng. Vì tôi là người mới tu tập nên tôi nghĩ sao, nói vậy. Và tôi rất mong được nghe những quan điểm và các góc nhìn khác nhau của Quý vị để từ đó trau dồi thêm kiến thức cho mình.

Qua đây, HĐN cũng xin cảm ơn Minh Quang! Vì Minh Quang đã thử nghiệm quả
"Tịnh vị" và nói lên những điều mà MQ cảm nhận. HĐN cũng cảm ơn MQ vì đã nói chi tiết hơn về cách niệm Phật với cách ATCN đằng trước mặt theo phương pháp của HSTĐ để một số Độc giả và là Nhà phê bình có thể hiểu thêm.

Hoa Sen trăm đóa thân mến! Có lẽ những ngôn từ của tôi còn kém cỏi nên không biết dùng đúng từ để bày tỏ những suy nghĩ của mình. Từ
"Niệm Phật trong định" mà ý tôi muốn nói ra là: Khi những người tu Thiền định đã đạt được "Định tâm" rồi thì tâm họ rất ít suy nghĩ lăng xăng khi công phu nhập định. Và khi đó họ có thể niệm Phật với cái tâm không có vọng niệm mà chỉ có câu niệm Phật trong tâm thôi, thì đó chính là "niệm Phật trong định" theo ý của HĐN.

Tôi cũng rất quan tâm, chú trọng đến lời bình của MT.  


MT nói rằng:  
” Người hiểu về vi diệu pháp sẽ không nói: gặp Phật, nói chuyện với Phật, mượn màng ti vi, xem bói coi kiếp, đi du lịch, Phật tặng quà sinh nhật,....v...v. ” 

Vậy MT nghĩ sao nếu Người tu Thiền định cũng gặp những người ở các cảnh giới khác và nói chuyện, giao tiếp với họ bằng những mật mã của chính họ với nhau?!

Quay trở lại với Hổ Nước Tương, chúng ta sẽ cùng nói đến phần niệm Phật của Tịnh độ nhen!

Hổ Nước Tương nói rằng:  

... Pháp Niệm lục tự Di Đà, không đủ để đạt "Nhất Tâm Bất Loạn".

Vậy theo Quý vị, "Nhất Tâm Bất Loạn" là gì? Quý vị hiểu thế nào về những từ này?

Bản thân tôi cũng là người vừa học vừa đi hỏi. Theo tôi hiểu thì
"Nhất Tâm Bất Loạn" là trong tâm chỉ có câu niệm Phật, không có tạp niệm và vọng tưởng khác. Tôi nghe video clip của Cư sĩ Diệu Âm Diệu Ngộ thì Cư sĩ này nói rằng: "Nhất Tâm Bất Loạn" là nghe tiếng niệm Phật từ chính bản thân mình phát ra tiếng đó - tức là tiếng niệm Phật từ trong tâm phát ra. Khi người tu Tịnh độ đạt đến tình trạng này thì tự họ nghe được chính tiếng niệm Phật từ trong Tâm phát ra, mà không cần phải niệm bằng tiếng hoặc cũng không cần phải niệm thầm trong Tâm nữa. (Xin các bạn tham khảo “Kinh nghiệm niệm Phật và những chuyện luân hồi" của cư sĩ Diệu Âm Diệu Ngộ). Theo tôi hiểu thì "Nhất Tâm Bất Loạn" cũng là không cần niệm thì câu niệm Phật vẫn tự động niệm. Còn theo bên tu Thiền Định thì Nhất Tâm là tâm đứng im.

Hổ Nước Tương nói rằng cho dù cố gắng đến cách nào đi chăng nữa thì vẫn cứ là vọng tưởng. Niệm cứ niệm mà vọng cứ vọng. Câu này thì Hổ Nước Tương nói đúng rồi đó nhé. Vì nếu là bản thân tôi thì tôi cũng vẫn còn thấy điều đó. Vì tôi là người mới tu, vừa học, vừa hỏi mà! Nhưng Quý vị đã hỏi tất cả mọi người niệm Phật theo cách tập trung tư tưởng đằng trước mặt chưa? Nhất là những người làm theo điều này lâu bằng số năm tu tập của HNT rồi ấy? Tôi nghĩ rằng mỗi người một căn cơ. Có thể có những người tu lâu năm rồi thì vọng vẫn vọng, nhưng có những người tu được vài năm đã thấy có nhiều sự tiến bộ rõ rệt về việc kiểm soát Tâm rồi. Quý vị cho rằng, Tịnh độ thì niệm vẫn niệm mà vọng vẫn vọng, còn Thiền Tông thì không hề có vọng hay sao? Vậy thời gian đầu, Quý vị Thiền thì Quý vị có vọng không vậy?

Bên nào tu tập cũng đều mong sẽ được giải thoát, đó là cái đích cuối cùng. Nhưng ví dụ ngay trong đời này mà chưa đạt được quả vị giải thoát (Quả vị A La Hán) thì vẫn phải tu để kiểm soát tư tưởng và trước khi rời thế giới này. Người tu muốn mình sẽ xuất được hồn ra khỏi thể xác, kiểm soát tư tưởng, và đưa hồn mình đến nơi tốt nhất có thể đến. Thiền Tông cũng làm điều đó. Tịnh Độ Tông cũng có thể làm được điều đó đấy. Tôi có nghe qua một số Tu sĩ hoặc Cư sĩ trước khi chết đã tự xuất hồn của mình ra khỏi xác. Bên Tịnh độ gọi là
"Vãng sanh". Họ có thể đứng Vãng Sanh hoặc ngồi Vãng Sanh theo ý muốn của mình. Và một ví dụ gần đây nhất, ngay ở Việt Nam này, bạn có thể xem video clip của Sư Bà Như Phụng -Viện chủ chùa Long Vân đứng vãng sanh vào ngày 16/5/2009.

Trên đây là ý kiến của tôi. Nhưng tôi vẫn cần lời giải thích từ những kiến thức và góc nhìn của Ông Tổng Quản cùng Tam Tiểu Thư. Và tôi cũng mong muốn được nghe những ý kiến, quan điểm và góc nhìn của Quý vị!

Xin cảm ơn và mong được sự đóng góp, chia sẻ của Quý vị!

Hoa Đồng Nội



Cuộc họp báo (18) Tiêu Cục Xuyên Vân Kiếm pháp (tiếp theo)






        ... theo cái gì đúng!
                              .n g à i  H u ệ  N ă n g  c h a  đ ẻ  T h i ề n  T ô n g  T r u n g  Q u ố c  . . .


- Tam Tiểu Thư:

Kính thưa quý cử tọa, em xin hân hạnh giới thiệu toàn bộ ý kiến của
quý cử tọa Cận Định.

- Cận định: @ Lá thư từ độc giả 6: THỰC CHỨNG CÕI TỊNH ĐỘ
 

Chào cả nhà,
Cận định trước đây chưa bao giờ tu theo niệm Phật quán chấm đỏ của HSTD mà chỉ niệm Phật thôi. Nhân thấy các bạn bàn luận về cách tu niệm Phật, cận định xin phép có vài thắc mắc mong được chỉ giáo:


1. Nếu quán chấm đỏ mà ra được đề mục, thì nó có tương đương với trạng thái nhập định không?
2. Nếu nó tương đương nhập định, thì khi mình chuyển qua các đề mục khó hơn hoặc quán Di Đà, thì các mức độ thiền định được phân chia ra sao? thí dụ quán ra A Di Đà thì tương ứng với sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền hay cao hơn nữa?
3. Mức độ cao nhất của bậc thiền định là phi tưởng phi phi tưởng. Theo CTR thì ở bậc thiền này vẫn còn những tư tưởng vi tế chứ không phải là không có tư tưởng nữa. Nếu nhìn thấy linh ảnh A Di Đà rồi mình tác ý hỏi quá khứ vị lai gì đó, thì làm thế nào để phân biệt đó là ý của A Di Đà hay chính là ý của mình? nói cách khác là việc "dẫn kênh" bị nhiễu?
4. Làm sao để biết mình đang tiến đúng hướng hay mình đang bị nhập do chuyện mong cầu thần thông này?

Từ ngày vô blog này, cận định "ngộ" ra rằng chuyện chọn pháp môn tu cực kỳ quan trọng, vì nó là con đường. Nếu đã đi lạc thì càng đi nhanh càng xa rời đích đến. Cận định có tìm hiểu trang web HSTD (theo lời hướng dẫn của các thánh tăng: đọc cho kỹ, làm cho kỹ gì đó) nhưng đến nay vẫn chưa tìm thấy thông tin mà mình muốn biết. Trang web HSTD thực ra rất là khác biệt, độc đáo hơn và hay hơn các trang web phật pháp khác vì HSTD có dạy người ta thực hành và có phương pháp tu tập cụ thể, chứ không chỉ là sao kinh chép kệ. Cận định nghĩ trang web HSTD sẽ còn hay hơn nữa nếu để cho những ai muốn tu tập có thể trao đổi thẳng thắn, thày Tibu chịu khó giải đáp những thắc mắc (cho dù nó trái với quan điểm của mình), chứ đừng kêu người ta cứ "tu đi rồi sẽ biết". Trang CTR blog thì dường như làm ngược lại nên giúp người ta "biết rồi mới tu". Cận định chẳng theo phe ai mà theo cái gì ĐÚNG.

Kính


- Tam Tiểu Thư:

Kính thưa quý cử tọa, em thiết nghĩ, ý kiến của
quý cử tọa Cận Định về vấn đề tu hành theo trường phái Phật giáo nào đó, có thể là tâm trạng của rất nhiều quý cử tọa.

Muốn có một cái nhìn về Phật Giáo mang tính chất tổng quát cao, có khái niệm phần nào về những biến thể của Thiền Định Phật Giáo khi nhập cư vào Trung Quốc nói riêng, sau đó phát tán ở một số quốc gia Đông Nam Á, chúng ta cần đi ngược dòng lịch sử. Thật vậy, bất cứ người nào theo tu Thiền Định ở tại Việt Nam, cũng cảm thấy bối rối khi nghe các vị Thầy hướng dẫn "tiếp thị" trường phái của mình mới đúng là trường phái chính thống của Phật Giáo, trường phái Đại Thừa, trường phái Tối Thượng Thừa … Còn rất nhiều ngôn từ hoa mỹ, hoành tráng để mô tả về các trường phái tu Thiền. Muốn hiểu được thực hư của những "tiếp thị" này, chúng ta chỉ cần đi ngược dòng lịch sử.

Bộ môn triết học thường mô tả giai đoạn lịch sử thời điểm ra đời của Sakya Muni, Khổng Tử, Lão Tử là thời gian trăm hoa đua nở. Không cần phải ghi nhớ quá chi tiết, vì chúng ta không phải là sử gia, nhưng với cách mô tả này thì ai cũng có thể nhớ là 3 vị nói trên đều có thể coi là cùng một thời kỳ lịch sử.

Người ta cho rằng ngài Huệ Năng là cha đẻ ra Thiền Tông của Trung Quốc (638 - 713). Các tài liệu thường mô tả ngài như sau: "Cao Tăng đời Đường, người sáng lập thực tế Thiền Tông Phật Giáo Trung Quốc". Tài liệu khác cho biết khi Huệ Năng nghe thuyết giảng về tài liệu kinh Kim Cang, thì Ngài "ngộ" được chân lý. Chính ngài là tác giả của bộ Pháp Bảo Đàn Kinh với tông chỉ "Tự Tính là Phật" (tự tính thị Phật, tự tính chân không). Ngài chủ trương "Trực Chỉ Chân Tâm, Kiến Tánh Thành Phật". Chính ngài là tác giả của pháp môn Đốn Ngộ, sau này biến thể thành các hệ phái với số lượng nhiều không thể kể hết.

Việt Nam là một trong những quốc gia tu Thiền Định theo Phật Giáo Trung Quốc của ngài Huệ Năng. Chúng ta phải nhìn ra một sự thật: Ngày hôm nay có rất nhiều cơ sở Tôn Giáo to lớn ở tại VN, được gọi là Thiền Viện chính là nơi tu Thiền Tông của Trung Quốc. Nói một cách dân giã, chính xác đó là Thiền Định 100% made in China. Không những người VN, người nước ngoài mà cả trường phái Công Giáo cũng đến đây để học tập. Họ không ngờ đây không phải là Thiền Tông của Sakya Muni, mà nó là Thiền Tông của cao tăng Huệ Năng Trung Quốc.

Trường phái này có giống với Thiền Định của Sakya Muni không? Câu trả lời nó là rất khác biệt. Nó khác hẳn từ người sáng lập đến lý thuyết, thực hành.

Em xin nêu ra một vài tiêu chí để quý cử tọa tham khảo.

Dường như Sakya Muni, người thành lập ra trường phái Phật Giáo Ấn Độ, đánh giá rất cao về sự hiểu biết của con người. Ai đó chỉ cần vào một tiệm ăn chay bình dân đều có thể thấy những khẩu hiệu sau đây: 


"Tài sản lớn nhất trong đời, là sự hiểu biết và sức khỏe"
"Thiếu sót lớn nhất trong đời, là thiếu hiểu biết"

Người ta thường mô tả ngài Sakya Muini là: Trí, Bi, Dũng (theo tôn giáo chữ Trí được hiểu là, sự minh triết). Một tài liệu khác thì cho là: 

"Sống với người thiếu hiểu biết, cũng như sống với kẻ thù" (em nhớ hình như câu này là của tài liệu Pháp Cú). Ai cũng biết một lãnh đạo Việt Nam từng nói "coi sự ngu dốt là một thứ giặc". Khi Việt Nam còn dưới sự đô hộ của người Pháp, người Pháp có một điều luật khá tức cười, đó là hình phạt về tội "Ngu" … Từ tôn giáo cho đến thế gian, dường như sự thiếu kiến thức, thiếu hiểu biết … không được người ta đón chào.

Theo lịch sử, thì ngài Huệ Năng hình như có một kiến thức, có một nền học vấn, cực kỳ giới hạn. Phải chăng vì sự giới hạn của kiến thức, đã nảy sinh ra tư tưởng không tưởng là "trực chỉ Chân Tâm, kiến tánh thành Phật" … Ngược lại, Phật Giáo Nguyên Thủy thì cho là người muốn tu tập phải cần có những thời gian rất dài. Căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp, kể cả khi đã diệt được một vài Phiền Não nào đó, thì ở cấp độ này, còn phải tu thêm 7 kiếp nữa. Chỉ mới phần trình bày này, quý vị đã thấy sự khác biệt quá sâu sắc giữa Thiền Tông của Cao Tăng Huệ Năng người Trung Quốc và Ngài Sakya Muni người Ấn Độ. 

Cái khó khăn cho một ai đó muốn tầm sư học đạo, là khi đến một cơ sở Tôn Giáo nào đó, họ bị choáng ngợp bởi vẻ hoành tráng của cơ sở Tôn Giáo đó. Ở Chánh Điện của những nơi này có thờ phụng ngài Sakya Muni. Họ đâu có ngờ rằng vỏ ngoài là Sakya Muni, nhưng ruột lại là Cao Tăng Trung Quốc Huệ Năng. Nếu có hỏi thăm những vị Thầy hướng dẫn về việc tu Thiền Định, thì chính những vị này cũng không biết là họ đang tu Thiền Định của Trung Quốc. 


Trường phái Thiền Tông của Trung Quốc thường dựa vào cơ sở của hai tài liệu kể sau:

* Đại Thừa Khởi Tín Luận * Kinh Kim Cang.

CTR cũng đã đôi lần đề cập đến hai tài liệu này. Thực sự hai tài liệu này có trước thời gian ngài Huệ Năng và đều là Kinh Ngụy Tạo. Tác giả Kinh Kim Cang (có lẽ nhiều quý vị cũng biết), là những người Hàn Quốc … Do đó nói về mặt lý thuyết, thì trường phái Thiền Tông Trung Quốc, chẳng liên quan gì tới Thiền Định của Sakya Muni.

Nói chung, những tài liệu này đầu tiên đưa ra một Bản Thể Luận na ná giống với Phật Giáo. Cách tu tập cũng nói tới Thiền Định, Chỉ, Quán. Nhưng ở những phần sau của tài liệu thì chúng ta thấy nhân vật A Di Đà xuất hiện. Bất cứ ai có một tri thức luận lành mạnh, đều có thể phát hiện ra màu sắc của Trung Quốc trong đó. Phật Giáo Trung Quốc được pha trộn với hai trường phái địa phương, đó là Lão Giáo và Khổng Giáo.

Kính thưa quý cử tọa Cận Định,

Phần trên em có mô tả một bức tranh tổng thể về Thiền Định của trường phái Thiền Tông Trung Quốc và Thiền Tông Trung Quốc ở tại Việt Nam. Một khi có kiến thức này, thì chúng ta không lấy làm ngạc nhiên, là tại sao có nhiều trường phái tu Thiền Định ở tại Việt Nam, bề ngoài là Phật Giáo, nhưng sự thật là Thiền Tông Trung Quốc.

Để mang tính khách quan, em xin mô tả một trường phái khác; đó là Trường phái Vô Vi ở Việt Nam. Trường phái này thực sự là một sự pha trộn của Thiền Tông Trung Quốc và Lão Giáo của Lão Tử. Do đó, tên trường phái được đặt là Vô Vi (theo từ ngữ của đạo Lão mà ra) Người thuyết minh về lý thuyết cho trường phái này, là một cô gái có bằng Cử Nhân về Triết Học. Do đó, lý thuyết được trình bày khá cặn kẽ và tinh vi, logic … Em xin lỗi những môn đồ của trường phái này, ở đây em chỉ nói lên sự thật không che đậy.

Một khi hiểu được những vấn đề nêu trên, thì quí cử tọa Cận Định, có thể tự giải đáp bốn vấn đề mà quí cử tọa đưa ra, không có gì là khó khăn cả. Mặt khác, chúng ta dễ thống nhất với nhau. Sau đây, em xin đóng góp ý kiến với từng đề mục, mà quí cử tọa đưa ra.

- Cận định:

1. Nếu quán chấm đỏ mà ra được đề mục, thì nó có tương đương với trạng thái nhập định không?

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Cận Định.

Việc Chú Tâm vào một đối tượng nào đó, không nhất thiết là một chấm đỏ, là một kỹ thuật phổ thông của nhiều trường phái. Nó nhằm mục đích làm tâm lý con người tạm thời đứng im. Lý thuyết này thì có rất nhiều người biết (trong đó có em cũng như quý cử tọa). Nhưng thực tế, mình có làm cho tâm lý của mình đứng im được hay không, lại là một chuyện khác. Do đó, bộ môn Vi Diệu Pháp, mô tả chi tiết như sau: 


* Chú tâm vào một vật duy nhất, tìm kiếm Đối Tượng là một vật duy nhất, gọi là Tầm. * Cố giữ gìn Đối Tượng này (một vật duy nhất) để không làm mất đi Đối Tượng này, gọi là Tứ.
 

Nếu thực sự đạt được trạng thái này, tùy theo cường độ, tùy từng cá nhân, thì có hy vọng tâm lý sẽ đứng im, người ta gọi là Nhất Tâm. Ở các phòng thí nghiệm thì người ta cho là, diễn tiến này đòi hỏi thời gian, từ 20 phút đến 2 giờ.

Nhập Định cụ thể là có từ ngữ "Định", và "Định" có nghĩa là trạng thái Tâm đứng im, còn gọi là Nhất Tâm, và thao tác kỹ thuật về cấu tạo Tâm phải đi qua: Tầm, Tứ. Do đó, với câu hỏi: Quán chấm đỏ mà ra được đề mục, thì có tương đương với trạng thái Nhập Định hay không, thì câu trả lời của em như sau: Việc này cũng có thể tương đương, cũng có thể không tương đương. Trên nguyên tắc thì đây là kỹ thuật: "Chú Tâm vào một vật duy nhất". Vấn đề đặt ra là, chúng ta có thực sự thực hiện được các thao tác kỹ thuật là: Tầm, Tứ, Nhất Tâm hay không. Nói tóm lại, đây là một thao tác kỹ thuật của hầu hết các trường phái Thiền Định, Thôi Miên, Yoga … nhằm làm cho Tâm đứng im.

- Cận định:

2. Nếu nó tương đương nhập định, thì khi mình chuyển qua các đề mục khó hơn hoặc quán Di Đà, thì các mức độ thiền định được phân chia ra sao? thí dụ quán ra A Di Đà thì tương ứng với sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền hay cao hơn nữa?

- Tam Tiểu Thư:
Nếu chúng ta sử dụng đề mục là vị Phật A Di Đà (như mọi đề mục bình thường khác), là một phương tiện, là một công cụ, thì cũng chẳng có gì để nói. Nhưng chính đây là khúc quanh, mà các trường phái Phật Giáo Ngụy Tạo hay lợi dụng việc không hiểu biết của các tín đồ, để đưa người ta đến một mục đích mà họ mong muốn.

Em xin tách vấn đề này làm hai phần:

A. Như phần trên đã nói, nếu chúng ta sử dụng vị Phật A Di Đà là một đề mục để quán tưởng, làm cho Tâm đứng im, thì đối tượng này cũng như trăm ngàn đối tượng khác, chỉ là một công cụ trong thao tác kỹ thuật nhằm đạt được Nhất Tâm.

Đỉnh cao của việc sử dụng các Thần Linh: Phật, Bồ Tát, Thần Thánh … chính là các Mạn đà la của trường phái Mật Giáo Tây Tạng. Một tác giả người Pháp (mà chắc nhiều quí cử tọa có biết) là David Neel; người đã sống nhiều năm ở Tây Tạng. Người ta mô tả kiến thức của bà là một thư viện sống về Phật Giáo và bà thực sự có tu Mật Giáo Tây Tạng. Bà từng đưa ra một nhận xét, rất đáng cho người ta quan tâm: "Nhiều tu sĩ Tây Tạng không có tư chất thông minh, nhưng tu hành có những thành công", họ có đạt được một trình độ nào đó, họ sống một mình, trong các cái Cốc, cái Thất … Họ bằng lòng hưởng thành quả của Thiền Định của mình là việc sống với các Dakini ! Kính thưa quý cử tọa.

Mạn đà la của Tây Tạng chính là đỉnh cao của dạng Quán Tưởng kiểu Phật A di Đà. Nhưng nó cao hơn việc Quán Tưởng này, vì đây là một kịch bản nhiều tình tiết khá phức tạp. Một người tập luyện phải nhớ, hay đúng hơn là phải chú Tâm vào kịch bản sau đây:

* Vị Chủ Chân Ngôn * Chân Ngôn * Ấn Chú * Công Năng

 
Như phần trên đã trình bày, kịch bản này có nhiều màn kịch, mà người tập luyện phải chú ý vào nhiều vấn đề một lúc. Việc chú Tâm vào quá nhiều vấn đề phức tạp (4 yếu tố kể trên) trong nhiều màn kịch, làm cho tâm trí của người tập luyện bị quá tải. Vô hình chung, họ mất đi ý thức … Họ Nhập Định một cách cơ học chứ không phải do họ muốn. Đó là cách giải thích có thể coi là hợp lý. Nó lý giải tại sao các tu sĩ Tây Tạng nhập định được nhưng không có tư chất thông minh.

Nói một cách khác, việc "Chú Tâm vào vật duy nhất" đã được kịch bản hóa một cách thông minh và khéo léo. Nó đã làm cho con người Định Tâm một cách tự động, không đòi hỏi một tư chất thông minh.

B. Những trường phái Phật Giáo Trung Quốc nói chung (bao gồm tại Việt Nam), nói rằng phải tin vào một vị Phật tên là A Di Đà (họ còn củng cố niềm tin bằng cách bảo đó là lời Phật nói), coi vị Phật Di Đà như là một mục đích tối hậu, rồi từ đây bảo các tín đồ, phải cầu xin van vái, dâng lễ vật, cho các đối tượng là: Phật, Pháp, Tăng…Chính ở giai đoạn này, Phật giáo Trung Quốc nói chung và các nước Đông Nam Á nói riêng, trong đó có Việt Nam, tách ra khỏi Phật giáo nguyên thủy… Điều này chúng ta tìm thấy, được minh thị rõ ràng, ở phần cuối cùng của tài liệu Đại Thừa Khởi Tín Luận. Ở đoạn cuối của tài liệu này, một vị Mã Minh Bồ Tát nào đó, làm cho Sakya Muni phải tái sinh, để nói những điều Mã Minh Bồ Tát muốn.

Quý cử tọa Cận Định!

Em hy vọng với phần trình bày vừa rồi, thì việc quán A Di Đà, nếu được coi như một đối tượng Hữu Sắc, chứ không phải với tư cách một vị Phật, thì có thể đưa người tu Thiền Định đến cảnh Tứ Thiền Hữu Sắc.

- Cận định:
 
3. Mức độ cao nhất của bậc thiền định là phi tưởng phi phi tưởng. Theo CTR thì ở bậc thiền này vẫn còn những tư tưởng vi tế chứ không phải là không có tư tưởng nữa. Nếu nhìn thấy linh ảnh A Di Đà rồi mình tác ý hỏi quá khứ vị lai gì đó, thì làm thế nào để phân biệt đó là ý của A Di Đà hay chính là ý của mình? nói cách khác là việc "dẫn kênh" bị nhiễu?

- Tam Tiểu Thư:

Kính thưa quý cử tọa Cận Định, em là người phát ngôn của nhóm CTR, tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp. Cá nhân tiêu cục XVKP cũng như nhóm CTR, chỉ làm công việc là tìm hiểu, khảo cứu, đúc kết … với hy vọng làm một chiếc gạch nối, thuyết minh được một phần nào, minh họa được một phần nào của tư tưởng Phật Giáo Nguyên Thủy. Em xin thưa, những điều em trình bày chưa chắc đã là đúng; mà chỉ hy vọng nó gần với tư tưởng của ngài Sakya Muni nhất, mà em có thể làm được. Em rất mong sau này quý cử tọa, cùng như toàn thể quý cử tọa, hiểu cho, em chỉ là chiếc gạch nối, chứ chẳng có môn pháp môn riêng tư nào cả.

Căn cứ vào những tài liệu Vi Diệu Pháp, thì
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, là Cảnh Giới Thiền Định Vô Sắc cao nhất. Ở Cảnh Giới này, các yếu tố Sắc, dù là những Sắc vi tế nhất, đã hoàn toàn triệt tiêu, không còn hiện hữu. Cụ thể là, người tu Thiền Định sau những nổ lực không ngừng nghỉ, không mệt mỏi, đã bỏ lại sau lưng mình cảnh giới thô thiển Tứ Thiền Hữu Sắc. Ở cảnh giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, tư tưởng gần như không còn nữa, thì vấn đề mà quý cử tọa đặt ra, hoàn toàn không thể thực hiện được.

Vì không còn dấu vết nào của Sắc Tướng, thì làm sao nhìn thấy linh ảnh A Di Đà?

Việc nhìn thấy linh ảnh là mâu thuẫn. Em xin nhắc lại Cảnh Giới này không có Sắc, mà lại có mắt là Sắc, rồi lại nhìn thấy Sắc … thì phải bảo thực sự là tức cười !

Em xin lỗi đã dùng từ ngữ quá thô thiển. Điều này cực kỳ phi lý. Mặt khác, kể cả thực sự có một vị Phật nào đó thì chúng ta cũng không thể nhìn thấy. Lý do là để thành vị Phật, thì họ đã đi qua các Cảnh Giới Hữu Sắc cũng như Vô Sắc. Đặt giả thuyết là họ có thiện chí muốn chúng ta nhìn thấy, thì bản thân họ cũng chẳng có Sắc để cho chúng ta nhìn thấy.

Tiếp đến quí cử tọa có đặt vấn đề "Nếu nhìn thấy linh ảnh A Di Đà, rồi mình tác ý hỏi quá khứ vị lai". Kính thưa quí cử tọa Cận Định, chính quý cử tọa biết, ở Cảnh Giới
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, nói chung ở Cảnh Thiền Vô Sắc, người tu Thiền Định tìm cách thanh lọc, kể cả tư tưởng, các khái niệm, đều muốn vứt bỏ. Nhất là khi ở Cảnh Giới Phi Tưởng Phi Phi Tưởng, người tu Thiền Định muốn vứt bỏ một cách tuyệt đối các tư tưởng, kể cả những tư tưởng vi tế nhất, thì làm sao mình làm được các thao tác tư tưởng là "Mình tác ý hỏi quá khứ vị lai gì đó". Thao tác tư tưởng này không thể thực hiện được, vì có tư tưởng đâu mà thực hiện. Lại một lần nữa chúng ta thấy, sự nghịch lý, mâu thuẫn nội tại của vấn đề.

Không biết có quá chủ quan hay không, chứ em e ngại là những người đưa ra vấn đề này, chưa biết mùi vị thực sự của Thiền Định. Do đó họ đã mô tả, thuyết minh những điều mà mình không biết.

Ở Cảnh Giới nào người ta cũng mở Huệ, bình dân gọi là con mắt thứ 3. Đây chỉ là một từ ngữ để mô tả một trạng thái, một công cụ của các Thực Thể ở các Cảnh Giới khác nhau, để tiếp thu thế giới khách quan. Để minh họa vấn đề cho dễ hiểu, em xin mô tả bằng những từ ngữ hết sức là bình dân như sau:

a. Con mắt vật chất của con người, hay các thú vật, nhìn thấy các vật chất mà chúng ta đang thấy (tạm gọi là vật chất đầy đủ các yếu tố). Một điều sau đây mà chúng ta phải quan tâm; đó là để hiểu được những điều đang thấy do con mắt vật chất, chúng ta phải có một hệ thống nhất quán về
Luận Lý Hình Thức. Chính vì không hiểu vấn đề này, do đó sanh ra quá nhiều người mở Nhãn, và nhìn thấy các video clip. Người ta không ngờ rằng, muốn tri giác thế giới khách quan vật chất, chúng ta phải hội đủ hai yếu tố: 

     1. Giác quan vật chất (Chủ Thể) và 
     2. Thế giới vật chất (Đối Tượng)

Giữa Chủ Thể và Đối Tượng có một công cụ gạch nối như một chiếc cầu; đó là Luận Lý Hình Thức. Đây là yếu tố không thể thiếu được.

b. Chỉ tiến lên đến cảnh giới Định Dục Giới thôi, thì cấu tạo Sắc của các Thực Thể và thế giới khách quan đã khác đi rất nhiều. 


Thể trạng: cứng (Solide), khối lượng (mass), trọng lượng (Weight) … là những đặc tính mà có thể tri giác bằng xúc giác, nay không còn nữa. Tính chất Bản Thể Sắc đã thay đổi, vì xúc giác dường như không còn hiện hữu. Do đó việc Thấy Biết sẽ khác với cảnh Dục Giới rất nhiều. Mặt khác, một loại Luận Lý Hình Thức khác, là một công cụ để hiểu được thế giới khách quan, không còn giống như Luận Lý Hình Thức mà chúng ta đang sử dụng ở cảnh Dục Giới nữa.

Em chỉ xin nêu ra hai Cảnh Giới có tính cách tượng trưng, để mong những quý vị nào từng cho rằng mình đã mở Con Mắt Thứ 3, nên thận trọng nghĩ lại về những gì mình đã lỡ biết xưa nay và cho nó là có thật … Sự hiểu biết lầm lẫn này là một thảm họa cho người tu Thiền Định. Nó là chính là mảnh đất màu mỡ cho tình trạng bị Nhập; mà chúng ta gọi một cách lịch sự là dẫn kênh. Tự mình đưa mình đến một cuộc sống Hoang Tưởng.

Còn rất nhiều dạng thấy biết khác, em chưa thể trình bày hết được. Em hy vọng sau này có cơ hội, sẽ trình bày hầu quí cử tọa.

- Cận định:

4. Làm sao để biết mình đang tiến đúng hướng hay mình đang bị nhập do chuyện mong cầu thần thông này?

- Tam Tiểu Thư:

Đây là câu hỏi mà chính bản thân ngài Sakya Muni cũng phải đặt ra. Cuộc đời tu hành của Sakya Muni và những người khác mà chúng ta có thể kể đến như: Patanjali, Lão Tử, Khổng Tử ... là đáp án thực tế nhất. Chính cuộc đời của bản thân những người kể trên là câu trả lời thực tế cho câu hỏi mà quý cử tọa đã đặt ra. Kim chỉ nam gồm có ba điều bất tử:

     * Chân lý bất tử: Vô Thường, Vô Ngã, Khổ Não
. 
     * Con đường bất tử: Bát Chánh Đạo.
     * Công thức tu Thiền Định bất tử: Giới, Định, Huệ.

Em thiết nghĩ ba phát biểu cơ bản này chính là cái thước đo để biết mình có đi đúng đường hay không. Em nghĩ đây là ngôi sao Bắc Đẩu mà quý vị đã nêu ra; đó là theo cái gì ĐÚNG.

Em xin chân thành cảm ơn quý cử tọa Cận Định, cùng toàn thể quý cử tọa. Tam Tiểu Thư chắp tay lên trước trán, kính cẩn chào các cử tọa sau buổi họp báo.