skip to main |
skip to sidebar
... đâu là Sự Thật ?
. . . t i ế u n g ạ o g i a n g h ồ . . .
BỐI CẢNH
Qua nhiều buổi họp báo, được nhiều cử tọa quan tâm động viên, Tam Tiểu Thư có vẻ như đã quen thuộc với công việc. Tuy nhiên, tác phong và thái độ luôn luôn nhất quán, văn minh lịch sự, hiền hòa thân hữu và quan tâm sâu sắc tới tất cả các quý cử tọa.
- Tam Tiểu Thư:
Trong buổi họp báo lần thứ 15 vừa qua, chỉ mới post bài lên trong một thời gian ngắn, em được rất nhiều ý kiến đóng góp của quý cử tọa. Trước nhất em xin cám ơn hảo ý của quý cử tọa đã quan tâm. Sau đây em xin phép nêu ra ý kiến của một số quý cử tọa.
- Tiếu ngạo giang hồ: @ Cuộc họp báo 15
Tui thì có ý nghĩ như vầy: do đây là trang blog nên ai cũng có quyền tham gia ý kiến của mình một cách bình đẳng. Thế nên bạn nặc danh cũng đừng chạnh lòng bênh vực HSTD và các bạn khác cũng đừng bực mình khi thánh tăng coi kiếp sai tè le về Tổng Quản.
Vấn đề quan trọng theo tui là chúng ta cần biết đâu là sự thật vì đó là quyền lợi chính đáng khi mình bỏ thời gian công sức và cả tiền bạc ra để theo một ông thày nào đó. Ai muốn tu pháp môn gì thì tùy ý, nhưng câu hỏi là liệu cái pháp môn mình đang tu đó có dẫn mình đến kết quả tốt đẹp như mình mong ước hay không, là một câu hỏi thông minh. Giá trị đúng sai của pháp môn cần phải qua thử thách. Vàng thật sẽ không sợ lửa.
Tui đọc CTR blog học hỏi được rất nhiều vì đây là nơi comment không cần phải khen ngợi, tâng bốc hay lấy lòng mấy ông giáo chủ.
- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Tiếu ngạo giang hồ. Quan điểm của Tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp dường như tương thích với ý kiến của quý cử tọa. Thật vậy, quan điểm này đã được trình bày gần như toàn bộ trong lời thưa, phần dẫn nhập của blog CTR.
Em cho là trước khi nói những chuyện xa xôi, chúng ta nên là một công dân tốt, triệt để chấp hành luật pháp của Việt Nam và Quốc Tế, tôn trọng quyền con người.
Chắc quý vị ở đây ai cũng từng biết, từng đọc truyện Kiều. Khi Kiều khuyên Từ Hải ra hàng, Từ Hải đã đưa ý kiến như sau:
"Áo xiêm ràng buộc lấy nhau,
Ra luồn vào cúi công hầu mà chi,
Sao bằng riêng một biên thùy ...
... Dọc ngang nào biết trên đầu có ai"
Xã hội Việt Nam ngày hôm nay có một câu nói mà ai cũng biết: "Không có gì quý hơn độc lập tự do". Một tổng thống Mỹ đã từng tuyên bố: "Con người ta sanh ra là bình đẳng".
Ðúng vậy, những trang blog này là dành cho những người như bạn, như tôi, những con nguời bình thường bình đẳng một cách bẩm sinh. Ở đây không có Thầy, không có học trò. Chúng ta chỉ là những công dân bình đẳng, trao đổi với nhau những vấn đề mà mình quan tâm.
Một lần nữa, em nhắc lại rằng trang blog này hoàn toàn đồng ý với quan điểm của quý cử tọa Tiếu ngạo giang hồ: "Vấn đề quan trọng theo tui là chúng ta cần phải biết đâu là sự thật, vì đó là quyền lợi chính đáng của mình, khi mình bỏ thời gian công sức và tiền bạc …". Em cũng đồng ý đây là một câu hỏi thông minh.
Blog của CTR lấy con người bình thường là mục đích để phục vụ. Ðơn giản chỉ có thế mà thôi.
Em xin cám ơn quý cử tọa Tiếu ngạo giang hồ. Em rất mong được quý cử tọa giúp đỡ trong tương lai và chỉ bảo những thiếu sót.
- Tam Tiểu Thư:
Sau đây xin đóng góp với quý Nặc Danh 15 tháng 8. Do bài đóng góp của quý cử tọa, có rất nhiều phần, nên để tránh sự lầm lẫn, em xin chia từng phần để đóng góp.
- Nặc danh (14:40 Ngày 15 tháng 8 năm 2013 @ cuộc họp báo 15):
Kính thưa TTT cùng nhóm CTR!
Cám ơn TTT có lời khen nhưng tôi không dám nhận, trái lại còn cảm thấy xấu hổ. Tôi chưa từ bi đến mức thế đâu.
Bình thường tôi không hề tham gia, bàn luận, đấu tranh phê phán một tôn giáo nào, một pháp môn nào. Tôi có pháp môn, tôi tu theo pháp môn của tôi, người khác có pháp môn và tu theo pháp môn của họ. Tôi biết CTR Blog này cũng khá lâu, CTR Blog nói chuyện về HSTD từ những ngày đầu của Blog nhưng ko hề can thiệp, chỉ có điều gần đây có quá nhiều người có lời lẽ không hay thậm chí là xúc phạm đến HSTD. Nếu các vị không theo thì thôi chẳng ai bắt các vị phải theo. Có chuyện cá nhân nhưng lại vơ đũa cả nắm về HSTD, về Ông Thầy Tibu... nên tôi mới có những lời lẽ như vậy.
- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Nặc Danh, em xin cám ơn quý cử tọa có hảo ý, với thái độ vô cùng trung thực và khiêm tốn, đã đóng góp một bài viết tương đối dài.
Thưa quý cử tọa, một khi quý cử tọa đưa ra quan điểm "Tôi có pháp môn …, người khác có pháp môn". Chính câu nói này cho thấy quý cử tọa đã chấp nhận tính chất cơ học của lịch sử, của xã hội, của tư tưởng với tinh thần Biện Chứng.
Biện chứng được coi như là một nghệ thuật, một phương pháp để tranh luận và vấn đáp … Đây là một tiến trình rất được ưa chuộng từ thuở xa xưa của Triết Học Ðông cũng như Tây. Người ta thường định nghĩa Biện Chứng là nghệ thuật đối thoại và tranh luận trong vận động tư tưởng (Mouvement de pensee permet d’ atteindre un terme superieur une verite).
Em không lầm thì cũng có một quý độc giả là Tây Ðộc, đồng ý quan điểm, muốn tiến bộ, thì một khi đặt ra đề phải có phản đề, cuối cùng hợp đề xuất hiện. Quý độc giả này còn cho là, diễn tiến tinh thần này, sẽ làm cho xã hội của Việt Nam tiến bộ lên.
Do đó, khi có phản đề trong vấn đề tư tưởng, rất mong quý cử tọa Nặc Danh không nên đánh giá việc phản đề (những gì người khác nói ngược lại với quan điểm của mình) là những "lời lẽ không hay" hoặc "xúc phạm". Như phần trên đã trình bày, tiến trình biện chứng, là một tiến trình mà nhiều tác giả cho là có tính chất khách quan. Ðây chỉ là một quan điểm chủ quan, rất mong được quý cử tọa Nặc Danh chỉ bảo.
Ðây là phần thứ hai, của ý kiến đóng góp.
- Nặc danh: @ Cuộc họp báo 15
"Tôi biết "Niết Bàn không phải là cái gì có thể miêu tả bằng giấy trắng mực đen hay nhận thức bằng lý trí". Tôi chỉ hỏi vậy là để những người Phán về "Tịnh Độ" như thể là mọi chuyện đang rành rành trước mắt họ. Khi mà họ ko tập theo, hay chưa đạt được."
- Tam Tiểu Thư:
Về vấn đề trường phái Tịnh Ðộ, em đã trình bày với quý độc giả rất nhiều lần. Toàn bộ những gì em đưa ra là những sự kiện, những văn bản … (mà người ta thường gọi là những bằng cớ cụ thể - Evidence)
Em thiết nghĩ không ai dám "phán quyết" việc này một cách khinh xuất, khi những gì được "phán" ra liên quan đến một số lượng người tính bằng con số tỉ (theo thống kê không chính thức, thì số lượng tín đồ của Kitô giáo là đông nhất, kế đó là Hồi giáo, Phật giáo …). Thêm một lần nữa, em xin phép được nêu ra một vài tài liệu mà ai cũng có thể kiểm tra.
Tịnh Độ Tông (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Tịnh độ tông hay Tịnh thổ tông (zh. jìngtǔ-zōng 淨土宗, ja. jōdo-shū), có khi được gọi là Liên tông (zh. 蓮宗), là một trường phái được lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam do Cao tăng Trung Quốc Huệ Viễn (zh. 慧遠, 334-416) sáng lập và được Pháp Nhiên (法然, ja. hōnen) phát triển tại Nhật.
Huệ Viễn (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia)
Huệ Viễn (zh. 慧遠), 334~416, là một Cao tăng Trung Quốc đời nhà Tấn (zh. 晋). Sư họ Cổ (zh. 賈) nguyên quán xứ Lâu Phiền (zh. 樓煩) ở Nhạn Môn (zh. 雁門) thuộc tỉnh Sơn Tây. Ở Đông Lâm, hôm sớm Đại sư hằng lặng lòng quán tưởng, chuyên chí về Tịnh Độ, đã ba phen thấy thánh tướng mà trầm hậu không nói ra.
Năm Nghĩa Hy thứ mười hai, đêm 30 tháng 7, Sư ngồi tịnh nơi Bát Nhã Đài. Lúc vừa mở mắt xuất định, bỗng thấy Phật A Di Đà thân sắc vàng đầy khắp hư không. Trong ánh viên quang hiện vô số hóa Phật, mỗi vị đều có Quan Âm, Thế Chí hầu hai bên tả hữu. Lại thấy nước chảy chia thành mười bốn ngọn quanh lộn lên xuống, phóng ra những tia sáng đẹp, diễn nói các pháp: Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Đức Phật bảo Sư rằng: "Ta dùng sức bản nguyện đến đây an ủi ngươi. Sau bảy ngày, ngươi sẽ được sanh về Cực Lạc". Đại sư lại thấy các bạn đồng tu ở Liên Xã đã viên tịch trước, như các ông: Phật-đà-da-xá, Huệ Trì, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân... đều đứng phía sau Phật. Các vị ấy bước đến trước, chắp tay chào và nói: "Ngài phát tâm sớm hơn chúng tôi nay sao lại về muộn như thế?".
Em xin đan cử một tài liệu khác nữa "PHƯƠNG PHÁP NGỒI THIỀN" của Nguyễn Tuệ Chân xuất bản ngày 8 tháng 4 năm 2011.
"Tịnh Ðộ Tông: một tông phái Phật giáo Trung Quốc, cũng gọi tên khác là Liên Tông, chuyên thành tu để vãng sanh về Tịnh Thổ, nên có tên như vậy. Những người mở đầu tông phái này là Tuệ Viễn, Huyện Loan và Ðạo Xước, người sáng lập là Thiện Ðạo đời Ðường".
Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu khác nữa, chỉ cần quý vị dành chút thời gian rảnh rỗi viếng thăm Master Google.
Kính thưa quý cử tọa Nặc Danh, căn cứ vào tài liệu lịch sử, đúng ra phải nói là nhiều tài liệu lịch sử thì pháp môn Tịnh Độ là của người Trung Quốc chế tác 100%, không còn gì là nghi ngờ nữa. Chúng ta dù muốn hay không cũng phải chấp nhận một sự thật là Phật A Di Ðà và cõi Cực Lạc là sản phẩm tưởng tượng của một tác giả người Trung Quốc.
Theo tài liệu khác mà CTR đã có dịp đăng tải, thì bản thân vị Phật A Di Ðà có đến 4 người con đều là Bồ Tát cả: Quán Âm Tự Tại, Ðại Thế Chí, v.v… Rất mong quý cử tọa tham khảo những tài liệu của những bài viết trước, vì những tư liệu này quá dài, không thể đăng đi đăng lại mãi, làm phiền lòng những quý cử tọa có trí nhớ tốt. Theo em thiết nghĩ:
"Sự Thật là Sự Thật" và
"Không gì có thể cao hơn Sự Thật".
Đến đây em xin trình bày quan điểm riêng tư của em một chút. Ngài Tuệ Viễn người Trung Quốc hoàn toàn có quyền thành lập một trường phái riêng của mình, thí dụ: Tịnh Ðộ Trung Quốc chẳng hạn. Nhưng không thể sử dụng từ ngữ Phật Giáo Tịnh Ðộ, để gây sự hiểu lầm, cho rất nhiều người, dai dẳng trong mười mấy thế kỷ.
Việc ngộ nhận này đã tạo ra rất nhiều yếu tố tiêu cực trong xã hội. Những tín đồ Phật Giáo hiểu lầm, tưởng là Tịnh Ðộ Trung Quốc là Phật Giáo của Ngài Sakya Muni bên Ấn Ðộ. Thậm chí còn có những tài liệu, không biết tác giả là ai, lại còn cho là vị Phật A Di Ðà có trước Ngài Sakya Muni.
Việc theo đuổi tu tập mà dựa theo một đối tượng là ảo ảnh, dựa theo một cái gì không thật có, thì liệu việc này sẽ đưa chúng ta đi về đâu? Ðó là một điều rất đáng suy nghĩ cho bất cứ ai có nhiệt tâm muốn tu hành thực sự, hy vọng dập tắt các Phiền Não để ngày nào đó đến được bến bờ giải thoát.
Kính thưa quý cử tọa, như quý cử tọa Tiếu ngạo giang hồ đã nói:
"Chúng ta cần biết đâu là sự thật, vì đó là quyền lợi chính đáng" … một câu hỏi thông minh.
Việc lầm lẫn này nếu tính theo thời gian đã kéo dài 14, 15 thế kỷ. Trong suốt thời gian dài đăng đẳng đó, không biết những người tu theo những ảo ảnh không có thật này đã đi về đâu?
Không biết chừng với những việc làm ngày hôm nay, chúng ta sẽ là những người Việt Nam đầu tiên mạnh dạn nói lên sự thật, làm cho bao nhiêu người tránh được sự lầm lẫn hôm nay và mai sau.
Với nghề bảo tiêu, em có cơ hội đi rất nhiều nơi, từ đầu đường ... đến xó chợ. Em xin chia sẻ cùng quý vị vài lời về những kinh nghiệm có thật, những kinh nghiệm sống. Tại một tỉnh ở Việt Nam, em đã được gặp hai người. Mỗi người viết một cuốn kinh A Di Ðà khác nhau. Những nhân vật viết kinh em vừa kể tới, hiện tại đang còn sống … Em còn được biết hai cuốn kinh do hai người Việt Nam viết này, được rất nhiều người đọc và khen hay. Phải bảo đây là "hàng nhái của hàng nhái". Nói một cách thời thượng hơn, thì đó là hàng nhái "đa cấp". Lần đầu tiên gặp chuyện này, em vô cùng kinh ngạc. Nhưng đến khi tìm hiểu về quá trình của các trường phái Ðại Thừa nói chung và Tịnh Ðộ nói riêng, thì việc này cũng chẳng có gì là lạ. Em có cảm tưởng là dường như ai cũng có thể viết một cuốn sách gọi là Kinh Phật. Chỉ cần mở đầu cứ viết là Phật nói thế này, Phật nói thế kia là ... OK !!!
- Tam Tiểu Thư:
Em xin post tiếp ý kiến của quý cử tọa Nặc Danh.
Nặc danh: @ Cuộc họp báo 15
TTT có nói:
"Dự lưu (Sotàpanna, Tu đà hoàn): Diệt trừ được 3 Phiền Não đầu tiên: Thân kiến, Hoài nghi và Giới cấm thủ".
Nên những người mà Ông Thầy Tibu xác nhận họ đã vào "Tu Đà Hoàn" thì cũng mong các vị biết là vào "Tu Đà Hoàn" thì vẫn còn 'Tham, Sân, Si" như thường. Xin đừng lôi hai chữ "Thánh Tăng" ra mà trêu đùa, giễu cợt, mỉa mai...
- Tam Tiểu Thư:
Xin phép em được trình bày một cách trung thực như sau. Căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp, thì một người tu Thiền Định nào đó, ở một lớp Định nào đó, khi sử dụng 3 đối tượng là: Vô thường, Vô ngã, Khổ não, nếu diệt trừ được 3 Phiền Não là:
* Thân kiến / Nghi / Giới cấm thủ
Thì đạt được quả vị gọi là Ðạo Tâm. Khi ý thức được Quả Vị này hay Ðạo Tâm này thì gọi là Quả Tâm.
Ở đây chúng ta cần lưu ý: Thành quả này, Quả vị này, là do mình tu hành có được. Quả Tâm là do mình biết được bằng ý thức của mình. Những việc này là do mình làm ra và mình được hưởng. Không ai có quyền đóng vai trò phán xét là mình có đạt Quả vị hay không.
Tinh thần này mang đầy tính chất Phật Giáo Nguyên Thủy. Tinh thần không lệ thuộc, dựa dẫm vào ai.
"Mình tự thắp đuốc mà đi",
"Hiểu biết chân chánh là thầy của chính mình".
Tất nhiên khi nhận mình là tu theo đạo Phật, nghĩa là chúng ta công nhận Sakya Muni (chứ không phải là Huệ Viễn hay ngài A Di Ðà) là người khai sinh ra Phật Giáo. Ngài Sakya Muni tự tu tập một mình, tự chứng một mình … không dựa dẫm, lệ thuộc vào ai cả.
Kính thưa quý cử tọa Nặc Danh, phần cuối của ý kiến quý độc giả, em có thể tóm tắt khá ngắn gọn như sau. Những câu chuyện Phật Giáo trên cõi trời Đao Lợi, chuyện ngài Mục Kiều Liên và mẹ ruột của mình … Em thiết nghĩ đây chỉ là những câu chuyện mang tính chất Huyền Sử, chứ không phải là lịch sử. Nó mang tính chất biểu tượng để diễn tả một tư tưởng nào đó … Nói theo từ ngữ ngày hôm nay là nhằm mục đích giáo dục. Chắc quý cử tọa cũng đã đọc qua quá nhiều tài liệu, thì chắc quý cử tọa thừa biết, Ấn Ðộ không có chữ viết, không có lịch sử … Người ta dùng cách truyền khẩu tất cả mọi chuyện, trong đó có Kinh sách. Như em đã có dịp trình bày nhiều lần, kể cả những cuốn Kinh cơ bản của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy thì nhiều chuyên gia cũng cho là có những phần Ngụy tạo. Người ta đổ cho đó là ác ý của những ngoại đạo (là những người không theo trường phái Phật Giáo).
Trung thực mà nói, có quá nhiều lý do người ta có thể dựa vào để kết luận là những (hay nói chính xác hơn, là toàn bộ) Kinh Ðại Thừa, là do những người khác viết, chứ không phải là tư tưởng của Sakya Muni. Nếu dùng đúng từ ngữ thì phải gọi đó là Kinh Ngụy Tạo.
Một tài liệu rất căn bản là cuốn Ðại Thừa Khởi Tín Luận. Người ta cho rằng tác giả cuốn sách là Mã Minh Bồ Tát. Từ lúc ông sinh ra cho đến khi thuyết pháp, các con Ngựa đều khóc … Nếu chúng ta đặt một câu hỏi là những con Ngựa nằm trong biên giới của Trung Quốc khóc, còn những con Ngựa ở ngoài biên giới của Trung Quốc cách đó vài thước có khóc hay không? ... Chắc chắn là không ai có thể trả lời được … Với một tiểu sử tác giả như thế này, rồi việc dùng chữ Hán để mô tả chữ Tâm … thì hỏi ai dám tin đây là tài liệu của Ngài Sakya Muni trước tác.
Em xin phép dùng phần trình bày trên đây thay cho câu trả lời về vấn đề Ngài Mục Kiều Liên. Để kết thúc buổi họp báo hôm nay, em xin nhắc lại câu nói của tác giả Tiếu ngạo giang hồ:
"Chúng ta cần biết đâu là sự thật, vì đó là quyền lợi chính đáng" … đây là câu hỏi thông minh.
Em xin kính chào toàn thể quý cử tọa. Rất mong được gặp lại quý cử tọa trong những buổi họp báo tới.
Dẫn Kênh ?
. . . * h u ệ â m * ả o g i á c * h o a n g t ư ở n g . . .
BỐI CẢNH
Một buổi họp báo như mọi ngày, Tam Tiểu Thư chắp hai tay trước trán, nghiêm trang và dịu dàng chào quý cử tọa.
- Tam Tiểu Thư:
Em xin kính chào toàn thể quý cử tọa, hôm nay em xin phép được đóng góp ý kiến với quý cử tọa Nặc Danh ngày 11 tháng 8, và bổ túc về vấn đề Niết Bàn trong ý kiến đóng góp của một quý cử tọa lần trước. Trước nhất, em xin giới thiệu toàn văn của quý cử tọa 11/8
- Nặc danh: @ Cuộc họp báo 13
"...theo quan điểm Phật Giáo ... dù là một vị Phật, … đều phải chấp nhận những quy luật khách quan này chi phối."
Kính chào Tam Tiểu Thư (TTT), em có thắc mắc chỗ này: em nghe trong kinh nói rằng Ngài Sakya Muni có thể kéo dài thêm 1 kiếp sống nếu ngài muốn mà?! còn ví dụ về ông Khổng Minh, em nghĩ rằng (hi hi) chắc ổng không học theo phương pháp của ngài Sakya Muni nên mới thế (hi hi).
Dạ em chắc cũng chậm hiểu giống như anh 2 ì ach, đọc bài trên không biết mình hiểu có đúng không?! (đúng theo ý của TT muốn truyền tải đến người đọc).
Em đọc trên mạng các thầy giảng như là: "Tu là chuyển nghiệp, vượt qua nhân quả, làm chủ nhân quả”..v.v..
Dạ, em muốn hỏi nhiều, nhưng type bị mất 2,3 lần phải viết lại.
Em cũng thuộc dạng ngại đưa ý kiến lên các diễn đàn, thấy blog này TTT vui vẻ nên em bạo dạn 1 chút hi hi.
Chào TTT
- Tam Tiểu Thư:
Trước nhất em xin cám ơn quý cử tọa 11/8. Là một người ngại đưa ý kiến lên các diễn đàn, nay được quý cử tọa đóng góp, thật là một vinh dự cho em. Em sẽ cố gắng trình bày, đóng góp với tất cả khả năng của mình.
Kính thưa quý cử tọa Nặc Danh, căn cứ vào văn bản của quý cử tọa, quý cử tọa cho biết những thông tin mà quý cử tọa có được là do "Em nghe trong kinh nói", "Các Thầy giảng như là" …
Thưa quý cử tọa!
Chắc chúng ta đều biết lịch sử tôn giáo của Ấn Ðộ nói chung và Phật Giáo nói riêng, đã cách đây khoảng 4000 cho đến 2500 năm. Kể cả ngài Sakya Muni khi giảng pháp nói bằng ngôn ngữ nào, người ta cũng chẳng thống nhất được với nhau. Có người cho là, có lẽ Sakya Muni đã nói bằng một loại Thổ Ngữ gọi là Mogadhi. Thời này không có chữ viết ghi lại, thế nên mọi thứ còn lưu lại cho đến ngày hôm nay, đều do truyền khẩu từ người này qua người khác. Chuyện này không phải xảy ra duy nhất cho những tài liệu của trường phái Phật Giáo, mà với những trường phái khác cũng vậy. Mức tin cậy phải bảo là rất là thấp. Khi chúng ta hình dung những lời nói của một người nào đó, mà tư tưởng của họ lại quá phức tạp, đi ra khỏi thời đại, thí dụ như tư tưởng của trường phái Phật Giáo, thì ai dám bảo đảm là sẽ không có sự sai lạc? Ta lấy một thí dụ về những tư tưởng của những tài liệu Luận thuộc trường phái Nguyên Thủy. Đến tận ngày hôm nay, nhiều quý học giả uyên bác, dường như cũng không hiểu tài liệu đó nói gì. Huống chi học thuộc lòng một tài liệu gì đó mà người ta không hiểu, với độ dài đến hàng trăm trang, hàng ngàn trang, thì đến cái máy photo cũng có sự lầm lẫn, đừng nói là tâm lý con người. Chúng ta không thể mong chờ chuyện ghi nhớ thuộc lòng này sẽ khách quan hơn cái máy.
Một điều đáng quan tâm là Ấn Ðộ không có lịch sử. Do đó việc khảo cứu để tìm mức độ chính xác, có lẽ là một điều khó có thể thực hiện được. Chưa kể đến chính trong trường phái Phật Giáo lại có sự phân hóa. Có lẽ khái niệm Ðại Thừa, đã nhen nhúm ngay tại quê hương của Sakya Muni, sau khi Ngài nhập diệt 300, 400 năm sau.
Như những bài viết trước, em đã có nhiều dịp để trình bày về các tài liệu gọi là ngụy tạo. Theo thiển ý của em, thì có lẽ toàn bộ những tài liệu gọi là Ðại Thừa đều là ngụy tạo cả. Em xin lỗi trước vì đó là quan điểm chủ quan của em. Em xin đưa ra một luận cứ, hết sức là đơn giản và kinh điển. Trong những lần gọi là Kiết tập Kinh điển, chúng ta không thấy sự có mặt của những bộ kinh Ðại Thừa. Mặt khác, không biết em nói có cường điệu quá không, nhưng điều sau đây có thể cả trẻ em cũng không tin nổi. Những tài liệu này tường thuật lại từng câu từng chữ, vị này nói thế này, vị kia nói thế kia. Những tài liệu này không phải chỉ dài vài chục trang, mà là hàng trăm, có khi là cả ngàn trang. Em thiết nghĩ, có lẽ quý vị cũng đồng ý rằng không thể có bộ óc nào lại có thể nhớ trung thực một cách tuyệt đối, qua chiều dài của lịch sử mấy trăm năm, mà không thêm bớt gì cả. Em rất mong quý cử tọa đóng góp ý kiến.
Do đó, khi quý cử tọa căn cứ vào, bộ Kinh này hoặc bộ Kinh khác, hoặc các Thầy giảng như là … em e ngại là mức độ tin cậy, cần phải được kiểm chứng lại một cách nghiêm khắc. Như em vừa trình bày ở trên, những kinh ngụy tạo quá nhiều, chính bản thân những người thuyết giảng, (em xin lỗi trước) cũng không biết những tài liệu họ mang ra thuyết giảng đó, có phải đúng là kinh Phật hay không?
Ngay cả những tài liệu gọi là Kinh sách Nguyên Thủy, mức độ tin cậy chưa chắc đã cao. Ngài Thích Minh Châu cũng cho là có thể nhiều phần đã được ngụy tạo bởi những người ngoài trường phái Phật Giáo.
Do đó, chúng ta chỉ có thể có một nhận xét là những tài liệu Nguyên Thủy nói chung có tính chất nhất quán. Có nghĩa là tư tưởng trong toàn bộ các tài liệu có một logic nào đó, mang tính chất thống nhất, nếu bỏ qua những chi tiết.
Dường như tư tưởng của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy đã được tóm gọn trong những tài liệu gọi là Luận, cho là có một số định luật khách quan của thế giới tự nhiên. Ðịnh luật này nói theo kiểu Hữu Thần là Thượng Ðế. Hoặc nói một cách khác, Thượng Ðế chính là những định luật này. Do đó, việc quý cử tọa đưa ra là ngài Sakya Muni hoặc Khổng Minh có thể kéo dài tuổi thọ, đi ngược lại với những định luật của thế giới khách quan thì e là không chính xác. Phật Giáo có một câu nói rất nổi tiếng "Thần thông không liên quan tới nhân quả". Phát biểu này có một hàm ý rất sâu sắc về vấn đề định luật tự nhiên của thế giới khách quan.
Nếu căn cứ vào trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy thì việc "Vượt qua Nhân Quả, làm chủ Nhân Quả, chuyển Nghiệp …" dường như mâu thuẫn với khái niệm Nghiệp Báo. Nghiệp Báo không phải là một sản phẩm của Phật Giáo, mà nó đã có từ trước. Chỉ đến khi xuất hiện Ngài Sakya Muni, thì việc tìm hiểu về Nghiệp Báo được triển khai một cách có hệ thống.
Trong tài liệu Vi Diệu Pháp, vấn đề Nghiệp cũng được duyệt xét một cách có hệ thống và tỉ mỉ. Muốn biết là chuyện có thể vượt qua được Nhân Quả hay không, thì chúng ta có thể tìm hiểu việc thành hình của các loại Nghiệp trong diễn tiến của Luồng Tâm Thức. Các loại Nghiệp đã cấu tạo như thế nào và các loại Nghiệp sẽ xuất hiện ở trong thời gian nào … Nếu hiểu rõ vấn đề này thì chúng ta sẽ thấy việc vượt qua Nhân Quả, làm chủ Nhân Quả, e là không có trên thực tế!
Trên đây chúng ta trình bày nặng về vấn đề lý thuyết. Sau đây em xin phép trình bày về những kinh nghiệm thực tế. Em được biết có một người thường biết trước những việc sẽ xảy ra, bất lợi cho mình. Mặc dù biết trước những việc xảy ra có hại, nhưng vẫn không thể ngăn chặn được.
Em xin cám ơn quý cử tọa đã đóng góp ý kiến. Rất mong được quý cử tọa không ngại đưa ý kiến trên trang blog của CTR.
Kính thưa quý cử tọa, chắc quý cử tọa còn nhớ trong lần họp báo 15, có một quý cử tọa Nặc Danh đã đặt vấn đề là Niết Bàn ở đâu?
- Nặc danh: @ Lá thư từ độc giả 5: Khui Hụi Tiếp ...
@hoa nở mùa đông:
hề hề... Bạn tặng bài thơ đó cho TTT ko khéo cô ấy mắc nghẹn đó. chứ vui vẻ gì... thế mà lại có người mỗ tay tán thưởng mới ghê chứ... thật hài hước.
- Là người tu đạo lại cứ thích làm trò mỉa mai, đá xoáy người khác cho dù người ta có làm sai, làm ác chứ đừng nói cùng là người tu đạo. Các vị từ bi quá ha... hề hề...
Chứ vậy các Ngài có thể cho tôi biết "Niết Bàn" ở đâu không ạ? haha...
- Tam Tiểu Thư:
Mặc dù đã đóng góp qua nhiều trang, tuy nhiên, em thiết nghĩ những điều đóng góp trong lần họp báo vừa rồi cũng chưa đủ mức sáng tỏ để mọi người có thể nắm được vấn đề.
Chúng ta không thể trả lời trực tiếp vào vấn đề Niết Bàn ở đâu. Em cho là điều cần thiết chúng ta cần hiểu là tại sao qua quá trình tu Thiền Định, lại nảy sinh ra nhu cầu gọi là Niết Bàn. Từ ngữ Niết Bàn, không phải là từ ngữ duy nhất của trường phái Phật Giáo. Từ ngữ này phổ biến trong nhiều tôn giáo ở tại Ấn Ðộ, tuy nhiên nó có ý nghĩa và mục đích không giống nhau. Chính Phật Giáo đã vay mượn từ ngữ này của các tôn giáo bên Ấn Ðộ.
Ðể có một khái niệm tối thiểu về vấn đề Niết Bàn, chúng ta buộc lòng phải đưa ra một khái niệm chung chung về từ ngữ Niết Bàn của trường phái Phật Giáo. Niết Bàn của trường phái Phật Giáo có thể mô tả như là "Một trạng thái tâm lý An Tịnh". Tất nhiên, mô tả này không phải là hoàn hảo, nhưng ít nhất cũng làm cho chúng ta có một khái niệm tối thiểu.
Chúng ta có thể giải thích như sau: Trạng thái Niết Bàn không có một vị trí địa lý như cõi Cực Lạc của ngài Tuệ Viễn, cũng không phải là Vườn Địa Đàng của trường phái Công Giáo … Do đó, việc đi tìm một vị trí địa lý cho Niết Bàn là một việc không thể thực hiện được. Đúng ra nó là một trạng thái, có thể gọi là đỉnh cao của người tu Thiền Định; khi mà các Phiền Não đã bị dập tắt, Ngũ Uẩn không còn, Nghiệp Lực đã khô cạn … (nói theo ngôn từ trường phái Phật Giáo).
Niết Bàn đã xuất hiện như thế nào?
Em thiết nghĩ đây chính là tiên đề mà chúng ta phải quan tâm tới. Phải chăng Niết Bàn là một nhu cầu của người tu Thiền Định, là hệ quả tất yếu của người tu Thiền Định?
Em xin phép mô tả diễn tiến của một người tu Thiền Định như sau:
Có hai khả năng xảy ra cho một người tu Thiền Định, bất cứ thuộc trường phái nào, bất cứ ở đâu, bất cứ vào lúc nào.
a. Bất cứ ai ở trường phái nào tu Thiền Định, thì hay có khả năng xảy ra diễn tiến sau đây: Nếu Nhập Định được ít nhiều, cho dù sử dụng các loại kỹ thuật Thiền Định khác nhau, nhưng có chung một mục đích là đưa đến Định Tâm. Cụ thể là ý thức bình thường đã mất đi và Định Tâm hay ý thức của Thiền Định xuất hiện …
Lúc đầu chẳng có việc gì xảy ra. Họ cũng cảm thấy hệ quả hỉ, lạc bình thường như tất cả mọi người tu Thiền Định. Ở trạng thái này, người tu Thiền Định cũng cảm thấy thích thú về trạng thái hỉ lạc mà Thiền Định mang lại cho họ. Nhưng hầu hết những người đạt được trạng thái này là do sự nỗ lực, chịu khó, tinh tấn mà có. Nói cho đúng ra là do sự tình cờ may rủi, vì sự thật chẳng có một kỹ thuật nào cả. Họ cũng chẳng biết phải tiến đi đâu, phải lùi đi đâu … Theo định luật Tương Ưng, thì có những Thực Thể Tương Ưng đến giao tiếp với người tu Thiền Định. Người tu Thiền Định lần đầu tiên có cơ hội giao tiếp với những Thực Thể không phải là con người, thì lấy làm thích thú và ít nhiều kiêu hãnh. Họ hoàn toàn mù tịt không biết gì lý lịch về Thực Thể mà mình giao tiếp. Do đây là một sự việc khác thường, nên người tu cho là những Thực Thể mà mình giao tiếp đó là Thần Tiên, là Thánh, là Phật, Bồ Tát … tùy theo Tôn Giáo và trí tưởng tượng mà người đó gán ghép cho những Thực Thể mà họ tình cờ giao tiếp.
Chúng ta tạm dùng một từ ngữ (mà có lẽ không có trong các trường phái Tôn Giáo) là "dẫn kênh". Việc này đầu tiên hơi khó khăn. Nó tương tự như một dạng cầu truyền hình. Thế rồi việc này càng ngày càng trở nên thuần thục. Điều tệ hại hơn nữa là người tu Thiền Định tự kỷ ám thị, tưởng mình là người dẫn kênh, cụ thể là gặp và giao tiếp được với các Thực Thể. Về sau trở thành một dạng ảo giác, ảo ảnh, hoang tưởng … Thậm chí có nhiều người trở nên điên loạn.
Dạng dẫn kênh này vô cùng phổ thông trong lịch sử của nhân loại. Từ thuở bình minh của lịch sử Tôn Giáo cho đến ngày hôm nay, đầy rẫy những Giáo Chủ đã xây dựng giáo phái của mình dựa trên cơ sở những học thuyết cho là của các Đấng như Thần Thánh, Tiên Phật, Chúa … do các đấng này đã tiết lộ cho mình biết, những điều huyền bí kỳ diệu.
Những tài liệu Veda cũng cho biết là nó đã được xây dựng, dựa vào việc dẫn kênh của các tu sĩ của trường phái này. Họ uống một loại dược liệu gọi là Soma, làm mất đi lý trí. Họ tự Thôi Miên mình là đã gặp những vị Thần Thánh.
Sau này những người Ðại Thừa Phật Giáo cũng sử dụng Thiền Định và tự cho là mình đã dẫn kênh được các vị Phật. Do đó khi viết các tài liệu kinh sách, thì viết là Phật nói như thế này, Phật nói như thế kia. Thậm chí họ còn cho rằng họ phát hiện ra cả những tài liệu cho là bí mật được cất giấu. Ngài Tuệ Viễn người Trung Quốc; người khai sinh ra trường phái Tịnh Ðộ; khi ngồi công phu, cũng kể lại là dẫn kênh được vị Phật A Di Ðà và tùy tùng của Ngài. Dường như chính Ngài là tác giả của kinh A Di Ðà. Ở bên trời Tây, những tác giả như Blavasky, Lobsang Rampa, Barbara Ann Brennan … đều thuộc về dạng dẫn kênh … Người Công Giáo cũng dẫn kênh với Thánh nữ Theresa Avila … Ở Việt Nam, việc dẫn kênh cũng xảy ra như trường phái Phật Giáo Cao Ðài … Còn rất nhiều trường phái khác cũng làm những việc tương tự.
Đối với những trường phái kể trên, thì nhu cầu Niết Bàn không cần phải đặt ra. Lý do là vì Niết Bàn của những trường phái này sẽ theo mô hình mà trường phái đó phác họa; thí dụ như cõi Cực Lạc của ngài Tuệ Viễn, việc sát nhập với Thượng Ðế của trường phái Bà La Môn …
Quý cử tọa nghĩ gì về nhận xét sau đây của tài liệu Patanjali:
"Ðừng nghe lời nịnh hót của Thần Thánh"
Qua nhận xét này, dường như Patanjali đã cảnh giác những người tu Thiền Định về tai họa tiềm tàng của việc dẫn kênh với những Thực Thể không rõ nguồn gốc.
b. Đạt được đỉnh cao của Thiền Định là Niết Bàn, đầu tiên ta phải kể đến Sakya Muni. Chính bản thân của ngài Sakya Muni đã đi qua cả một tiến trình khá phức tạp của các lớp Thiền Định. Chính nhờ vào kinh nghiệm này mà tài liệu Vi Diệu Pháp đã ra đời. Tài liệu VDP mô tả về cấu tạo, cách thức vận hành của Tâm con người và các Thực Thể nói chung. Hai yếu tố là Sắc và Nghiệp Lực, cũng được xem xét như vấn đề cấu tạo Tâm ở trên. Dựa trên cơ sở hiểu biết về cấu tạo và tính chất cơ học của Tâm - Sắc - Nghiệp Lực, người ta đã mô tả được cấu tạo và tính chất cơ học của kỹ thuật Thiền Định ở tất cả các lớp, Hữu Sắc, Vô Sắc, Vô Tưởng, Siêu Thế Tâm … một cách rõ ràng. Kỹ thuật Thiền Định kể từ nay đã có một văn bản khai sinh, một thời điểm khai sinh và được minh họa một cách tường tận bằng tài liệu Vi Diệu Pháp.
Do đó, khi tu Thiền Định bằng những kỹ thuật nói trên, thì những diễn tiến sẽ xảy ra mang nặng tính chất cơ học và tất yếu. Cụ thể là ở bất cứ lớp Thiền Định nào, hệ quả Lạc (tức là vui) là hệ quả tất yếu. Qua tiến trình của các lớp Thiền Định, thì cái vui này càng mạnh mẽ hơn, sâu đậm hơn và lâu dài hơn. Tuy vậy, ngay cả ở lớp Thiền Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng, thì cái vui này dù cho có tinh vi cách mấy, vẫn chứa mầm mống của Phiền Não. Hơn nữa đó không phải là cái vui bất tận. Không thể có cái vui bất tận khi mà các Phiền Não vẫn còn tồn tại cho dù là rất vi tế. Thật vậy, vui có thể sanh ra do Thiền Định, thì tất nhiên phải nằm trong định luật Sanh, Trụ, Hoại Diệt. Tâm lý người tu Thiền Định thì yêu thích trạng thái này gọi là Ái, muốn giữ gìn trạng thái này gọi là Thủ … đó là bản chất của Phiền Não.
Nói tóm lại, bất cứ người tu theo trường phái nào, chứ chẳng phải là một mình ngài Sakya Muni, đều biết là mình cần phải vượt qua lớp Thiền Định Phi Tưởng, Phi Phi Tưởng.
Nhưng phải làm sao đây?
Người tu Thiền Định ý thức được rằng có rất nhiều yếu tố Phiền Não bủa vây xung quanh. Trước nhất có hai loại Phiền Não ngay trước mắt là Thân Kiến và Nghi. Nếu ứng dụng công thức: Vô thường, Vô ngã, Khổ não, thì chúng ta sẽ làm như thế này:
Ở bất cứ lớp Thiền Định nào đó, khi Tâm đã định, cụ thể là đạt được Tốc Hành Tâm, thì tôi Quán Tưởng thân của tôi được cấu tạo bởi: Tâm, Sắc, Nghiệp Lực … Những yếu tố cấu tạo nên thân tôi, lúc hợp lúc tan, có thể của tôi, có thể của người khác. Như vậy những yếu tố này có tính cách Vô ngã và Vô thường.
Thực tế là thân tôi ngày hôm nay đang hiện hữu, là do những yếu tố: Ái, Thủ, Nghiệp, Đoàn thực … Những yếu tố này đã cấu tạo nên thân tôi trong quá khứ, hiện tại và tương lai … Cách Quán Tưởng như thế này, từng bước một sẽ làm triệt tiêu những Phiền Não.
Khi giải quyết từng vấn đề này thì nó nảy sinh ra một nhu cầu, phải có một loại hạnh phúc, một cái vui có tính cách lâu dài hơn … Chính vì lý do này, mà người ta cho Niết Bàn là hệ quả tất yếu của người tu Thiền Định.
Còn tiếp ...
Niết Bàn (Nibbana) ?
Đ ạ o T â m * Q u ả T â m * T h i ề n T ư ở n g . . .
BỐI CẢNH
Tam Tiểu Thư cũng như mọi buổi họp báo khác, vẫn với vóc dáng lanh lẹ, khỏe mạnh, cô chạy nhanh lên những bậc thang. Cúi đầu chắp tay trước trán, chào các quý vị cử tọa, với ánh mắt linh hoạt, nụ cười hiền hậu, thái độ khiêm tốn, cô khai mạc buổi họp báo.
- Tam Tiểu Thư:
Em xin kính chào toàn thể quý cử tọa. Gần đây em đã nhận được rất nhiều ý kiến đóng góp của quý cử tọa. Đây thật là một vinh dự lớn lao cho tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp. Nhiều quý cử tọa đã nhiệt tình ủng hộ em, em vô cùng biết ơn và nguyện sẽ cố gắng hơn nữa trong công việc của mình.
Trong những ý kiến đóng góp gần đây, em xin phép chọn ý kiến của quý độc giả nặc danh. Trước khi trình bày ý kiến của quý độc giả nặc danh, em xin gởi lời cám ơn đến quý độc giả nặc danh đã đóng góp ý kiến một cách vô cùng trung thực, với lời lẽ đầy tình cảm đôn hậu và với tấm lòng của một Bồ Tát nói lên tấm lòng từ bi không bờ bến. Em vô cùng thán phục và cố gắng học theo gương của quý cử tọa. Lời nhắc nhở của quý cử tọa, đã xuất phát từ trái tim với tình cảm nhân ái "thương người như thể thương thân".
- Nặc danh: @ Lá thư từ độc giả: Khui Hụi tiếp ...
@hoa nở mùa đông:
hề hề... Bạn tặng bài thơ đó cho TTT ko khéo cô ấy mắc nghẹn đó. chứ vui vẻ gì... thế mà lại có người mỗ tay tán thưởng mới ghê chứ... thật hài hước.
- Là người tu đạo lại cứ thích làm trò mỉa mai, đá xoáy người khác cho dù người ta có làm sai, làm ác chứ đừng nói cùng là người tu đạo. Các vị từ bi quá ha... hề hề...
Chứ vậy các Ngài có thể cho tôi biết "Niết Bàn" ở đâu không ạ? haha...
- Tam Tiểu Thư:
Trước nhất em xin cám ơn quý cử tọa Hoa nở mùa đông, đã khổ công sáng tác một bài thơ để tặng cho em. Khi có điều kiện thuận lợi em sẽ đóng góp ý kiến với bài thơ của quý cử tọa Hoa nở mùa đông. Sau đây em xin đóng góp ý kiến với Nặc danh ngày 8 tháng 8.
Thật ra từ trước tới nay, nhóm CTR chưa bao giờ đề cập tới đề tài của quý cử tọa nêu ra, vì e ngại là nó thiếu tính chất thực dụng. Qua hàng nhiều trăm trang viết, nhóm CTR chỉ đề cập sơ lược các vấn đề nói chung, trong đó có một đề tài mà CTR chú ý tới nhất là làm sao để Nhập Định thành công. Trên thực tế, trạng thái Nhập Định rất dễ bị lẫn lộn với những trạng thái na ná Nhập Định như là bị Nhập (cụ thể là hồn Ma nhập), tự kỷ ám thị, thác loạn tâm lý, bị bệnh tâm thần ... Theo em nghĩ, chẳng ai tu Thiền mà muốn xảy ra bất cứ trạng thái nào không thuận lợi cho mình cả. Chẳng qua là vì người ta không hiểu rõ. Rất nhiều lần em đã từng nêu ra nhiều tác giả nổi danh thế giới bị các hồn Ma nhập vào mà không rõ hệ quả của nó ra sao. Ít nhất ở lãnh vực này, người Tây Phương có một khoảng cách về kiến thức chuyên môn rất xa so với người tu Thiền Định tại Á Châu. Cho dù vậy, ngay tại Á Châu nói chung và Việt Nam nói riêng, đại đa số người ta cũng không phân biệt được thế nào là bị Ma nhập và thế nào là đạt được trạng thái Thiền Định.
Nói tới đề tài Niết Bàn, theo em chủ quan suy nghĩ, thì nó là một cái gì đó quá xa vời đối với hầu hết mọi người, kể cả những người tu Thiền Định. Em xin lỗi trước, nếu nhận xét này không đúng với thực tế. Em thiết nghĩ, điều quý cử tọa đưa ra về vấn đề Niết Bàn, cũng là một cơ hội cho mọi người tham gia ý kiến để hiểu ít nhiều về đề tài này.
Nói theo kiểu dân gian, hầu hết mọi người như em, hoặc như quý cử tọa ở đây thường cho rằng niết bàn là một nơi nào đó, có đời sống tốt đẹp hơn đời sống của muôn loài trên trái đất. Quả thực, suy cho cùng, từ con người cho đến thú vật, sinh vật nào cũng khổ. Chúng ta thử xem những phim đời sống hoang dã, thì thấy con vật nào cũng khổ. Do đó ai cũng mơ có một thế giới tốt đẹp hơn.
Con người qua văn thơ cũng mơ ước một thế giới nào đó:
"Ðêm thu buồn lắm chị Hằng ơi
Trần thế nay em chán mất rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa
Cành đa xin chị nhắc lên chơi"
Kiều tuyệt vọng với thực tế phũ phàng, muốn tìm một đời sống khác, ở nơi khác:
"Ðạm Tiên nàng nhé có hay
Hẹn ta thì ở dưới này đợi ta"
Tâm lý học, Phân tâm học, Tâm thần học cho là con người là một sinh vật luôn luôn đi tìm khoái cảm tránh né khổ đau. Đó là một nguyên lý căn bản được gọi là nguyên lý khoái cảm (Principe de plaisir). Freud cho rằng đó là bản chất của con người, có lẽ nó còn sâu thẳm hơn cả bản năng (Comportement). Xét về góc độ tâm lý học, thì khoái lạc và đau khổ là hai mặt cực đoan của đời sống tình cảm con người. Chúng trói buộc với nhau và sống với nhau suốt đời. Thần tiên không giải quyết nổi.
Với tác giả Rank thì Thiên Đường là thời gian hạnh phúc sống trong bụng mẹ. Nói cách khác đó là đời sống ở trong tử cung của người mẹ. Con người luôn luôn nhớ nhung như một nỗi nhớ nhà, lúc nào cũng tìm cách để phục hồi, quay về trong bụng mẹ. Không có gì đau đớn như nỗi kinh sợ khi phải sanh ra đời, phải đi ra khỏi căn nhà an toàn chính là cái thân của người mẹ. Bụng mẹ là một Thiên Đường, nơi ấy tất cả mọi thứ đều được nhận lãnh mà không cần phải đòi hỏi. Việc sanh ra đời có nghĩa là bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng.
Về mặt chính trị, các chính trị gia khi tranh cử thường hứa hẹn một đời sống tốt đẹp hơn, một xã hội công bằng hơn … Chúng ta còn nhớ đến bài hát Quốc Tế ca: "Nay mai cuộc đời của toàn dân khác xưa, bao nhiêu lợi quyền tất qua tay mình … chế độ xưa ta nên phá sạch tan tành, toàn nô lệ vùng đứng lên đi ..."
Tôn Giáo cũng chẳng khác gì các bộ môn vừa nêu ở trên.
Có những trường phái cho con người là một Tiểu linh quang. Nếu biết tu tập theo trường phái này một cách nghiêm chỉnh, thì sau này sẽ sát nhập với khối Đại linh quang.
Một trường hợp điển hình khác là Thánh Nữ Theresa Avila của trường phái Công Giáo. Trong nhiều buổi chiêm nghiệm, Thánh Nữ đã gặp được các Thiên Thần và Chúa … Như vậy mục đích coi như đã đạt được.
Theo như Kinh Thánh, thì vườn địa đàng là một dạng Niết Bàn. Vì lý do nào đó con người đã bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng. Người ta cho là vườn Địa Đàng được mô tả trong kinh thánh nằm ở giữa hai dòng sông của nước Irac.
Trường phái Phật Giáo Tịnh Độ của tổ Tuệ Viễn người Trung Quốc, thì có mô tả cõi Cực Lạc như một dạng Niết Bàn của trường phái này. Cõi Cực Lạc được quản lý bởi một vị Phật là Ngài A Di Ðà. Vẫn theo những tài liệu này, thì cõi Cực Lạc giống như một tiểu bang của hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đời sống ở đây có vẻ dễ chịu giống như quận Cam. Vị thống đốc ở đây chính là vị Phật A Di Ðà. Chúng ta đừng quên là có nhiều cõi cực lạc chứ không phải là một (dạng giống như nhiều tiểu bang ở tại nước Mỹ) và cũng có nhiều vị Phật quản lý … Quý cử tọa có thể tham khảo những vấn đề trình bày tóm lược ở đây về cõi Cực Lạc trên những trang web như Bi Hoa kinh … và nhiều kinh sách khác nữa. Những trình bày này chỉ đóng góp như là những thông tin, không hề hàm ý bảo vệ hay bài bác một cái gì đó. Trong thế giới phẳng ngày nay, tất cả mọi người đều có thể truy cập thông tin nhanh chóng trên những trang web. Ðể mang tính chất công luận cao, em xin giới thiệu trang web Phật Pháp Chân Thật để quý độc giả tham khảo thêm … Để tránh hiểu lầm, em xin nói ngay em là người của tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp. CTR blog của em là sự thật không che đậy, không liên quan gì đến các trang web khác.
Qua phần trình bày ở trên, quý cử tọa có thể thấy khái niệm Niết Bàn là một khát vọng tự nhiên của con người ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời đại nào và bất cứ lãnh vực nào. Cải thiện cuộc sống để có một cuộc sống tốt đẹp hơn là khuynh hướng tự nhiên muôn thuở của nhân loại.
Chính nhu cầu đã đẻ ra kỹ thuật. Chúng ta có thể quan sát thấy hiện tượng này ở mọi lĩnh vực. Chắc người ta không thể ngờ được rằng khi chiếc xe hơi đầu tiên xuất hiện trên đường phố, phải có người đi trước và đi sau để báo hiệu một vật có thể tự di chuyển. Vào thời điểm đó người ta không thể tin được là có một cái máy gì đó mà có thể tự hoạt động một mình, không cần sức người, không cần sức gió, không cần sức ngựa … Rõ ràng cái máy này của ma quỷ.
Niết Bàn cũng không ngoại lệ. Đó là một sản phẩm của nhu cầu thực tế. Tiến trình tu Thiền Định thực sự bắt buộc phải tiến tới Niết Bàn. Hẳn nhiên mọi người đều biết trường hợp của Ngài Sakya Muni: Qua tiến trình triển khai các bước Thiền Định, thì rõ ràng Thiền Vô Sắc chưa phải là cái đích cuối cùng. Do đó, song song với các lớp Thiền Định, Ngài Sakya Muni phát hiện ra việc đạt được Đạo Tâm và khi ý thức được việc này thì gọi là Đạo Quả. Từ ngữ chuyên môn gọi là Siêu Thế Tâm.
Phần trình bày vừa xong, em không hy vọng là tất cả mọi người có thể nắm được vấn đề, vì chúng ta đi tắt qua quá nhiều lớp Thiền Định và kiến thức về việc chia chẻ các Tâm, Tâm Vương, Tâm Sở.
Em xin phép thử trình bày thêm một chút, hy vọng có thể làm sáng tỏ vấn đề:
Phật Giáo Nguyên Thủy chia
Thiền Định ra làm hai phần:
1. Dùng Kỹ Thuật Thiền Định, làm cho Tâm đứng im.
2. Quán Tưởng khi Tâm đã đứng im.
Quán Tưởng cái gì? Về đề tài Niết Bàn, người tu Thiền Định Quán Tưởng 3 vấn đề cơ bản:
Vô Thường / Vô Ngã / Khổ Não. Người ta cho là nếu Quán Tưởng 3 vấn đề này cho đến khi vỡ lẽ, thì Chứng được cõi Thiền Niết Bàn.
Ðiều em sắp nói sau đây rất mong quý cử tọa quan tâm:
Nghiệp chi phối ở cảnh Dục Giới.
Trí Tuệ chi phối ở Siêu Thế Giới.
Rất mong quý cử tọa ghi nhớ điều này. Em cũng biết đây là một điều phức tạp và gây chán ngán cho quý cử tọa. Tuy nhiên, muốn hiểu được câu hỏi của quý cử tọa nêu trên, bắt buộc chúng ta phải có những kiến thức tối thiểu về vấn đề liên quan đến Niết Bàn. Theo Phật Giáo Nguyên Thủy, thì con người có 10 Phiền Não kể sau:
* Thân kiến / Nghi / Giới cấm thủ.
* Dục ái / Sân.
* Sắc ái / Vô sắc ái.
* Mạn / Trạo cử / Vô minh.
Trong kinh điển thường đề cập đến bốn Quả Vị mà người tu phải nhắm đến trên đường Giải Thoát, đưa đến Niết Bàn. Các Quả Vị nầy được xem như là các dấu mốc hoặc các chặng đường trên hành trình thanh lọc Tâm ý, tiêu diệt 10 Phiền Não kể trên.
Bốn Quả Vị là:
Dự lưu (Sotàpanna, Tu đà hoàn):
Diệt trừ được 3 Phiền Não đầu tiên: Thân kiến, Hoài nghi và Giới cấm thủ.
Nhất Lai (Sakadàgàmi, Tư đà hàm):
Diệt trừ được 2 Phiền Não kế tiếp là: Dục ái và Sân một cách đáng kể.
Bất lai (Anàgàmi, A na hàm):
Diệt trừ được 2 Phiền Não kế tiếp: Sắc ái và Vô sắc ái.
Alahán (Arahat, Ứng Cúng):
Diệt trừ được những Phiền Não còn lại.
4 Quả Vị còn được gọi là Đạo Tâm.
Khi nhận thức được Đạo Tâm hay Quả Vị này thì gọi là Quả Tâm.
Tiến trình của người
muốn Chứng Niết Bàn
- Đầu tiên phải Nhập Định để có Nhất Tâm.
- Khi đã ở trong trạng thái Nhất Tâm thì Quán 3 vấn đề:
* Vô Thường / Vô Ngã / Khổ Não.
Tu Thiền Tưởng: là tên gọi của cách tu tập này.
Diễn tiến của lộ trình Tốc Hành Tâm (Javana) như sau:
* Chuẩn Bị > Cận Hành > Thuận Thứ > Chuyển Tánh > Ðạo > Quả.
Để hiểu rõ về quán sát Danh (Tâm) là một việc rất phức tạp. Chỉ cần nói đến một cái Tâm thôi thì nó phải được tìm hiểu ở nhiều góc độ. Ít nhất 6 vấn đề phải quan tâm tới khi tìm hiểu về một cái Tâm:
1. Tâm này là Tâm Vương hay Tâm Sở?
2. Cảnh Giới: Tâm này thuộc Cảnh Giới nào?
3. Tâm này Thiện hay không Thiện. Có thể là: Bất Thiện Vô Nhân Tịnh Quang …
4. Ở góc cạnh Tái Sinh: là Tâm Dị Thục hay Duy Tác.
5. Căn Nhân là: Hữu Nhân hay Vô Nhân.
6. Tâm này còn câu hữu với những Tâm nào?
Nói tóm tắt, trên con đường tiến tới mục đích Niết Bàn, thì có 3 vấn đề phải tách riêng ra.
1. Việc kỹ thuật tu Thiền Định qua các lớp Thiền Định là một việc riêng, chỉ nhằm mục đích duy nhất là làm cho Tâm định có nghĩa là Tâm đứng im, có nghĩa là đạt được Tốc Hành Tâm.
2. Phải ý thức được có 10 Phiền Não cơ bản đã kể ở trên, để đạt được Đạo Tâm, Đạo Quả mà đã giải thích ở trên.
3. Ba vấn đề cần Quán Tưởng (từ ngữ phổ thông gọi là Tam Pháp Ấn) mà ở đây chúng ta không thể đi vào chi tiết, vì quá dài dòng và phức tạp. Tam Pháp Ấn là Vô Thường, Vô Ngã, Khổ Não … Em xin nhắc sơ chúng ta đừng quên, Phật Giáo Nguyên Thủy có hai trường phái Hữu Ngã và Vô Ngã. Việc tóm tắt một tài liệu khá phức tạp, là những cuốn luận Hữu Ngã và Vô Ngã của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy về vấn đề Niết Bàn, là một việc làm em thiết nghĩ quá mạo hiểm.
Nói tóm lại, 3 vấn đề này phải được thực hiện song song, nếu ai đó có ý định tiến về mục đích là Niết Bàn.
Bây giờ chúng ta có thể tiếp cận ít nhiều với đề tài Niết Bàn, mà như quý cử tọa đã nêu ra trong tinh thần đóng góp.
Dường như ngài Sakya Muni từ chối không định nghĩa Niết Bàn là gì. Theo nguyên ngữ thì Niết Bàn có nghĩa là, ở dạng phân từ quá khứ, một "ngọn lửa" nào đó được hiểu ngầm, được dập tắt, thổi tắt. Người Trung Quốc sử dụng nhiều từ ngữ để mô tả như: Bất sinh, diệt tận, tịch diệt … Có thể hiểu như là "ngọn lửa phiền não" đã được dập tắt. Niết Bàn được coi như là cứu cánh cuối cùng của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy; nơi mà thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt và cũng không còn chỗ đứng cho tham dục, sân, hận, si, mê.
Xin khẳng định định với quý cử tọa nặc danh rằng Niết Bàn chắc chắn không có một vị trí địa lý.
* Tự Tánh của Niết Bàn là An Tịnh và như vậy là chỉ có một.
* Theo kinh nghiệm trước và sau khi chết thì Niết Bàn được coi là hai.
* Niết Bàn được hiểu như là sự tận diệt của Ngũ Uẩn và Phiền Não.
Làm sao chứng ngộ được Niết Bàn? Ngoài tiến trình kể trên, Niết Bàn được chứng ngộ bởi Trí Tuệ (chính bản thân ngài Sakya Muni chứng ngộ được Niết Bàn trong khi Nhập Định, nhờ sự Minh Triết của Định Tâm, chứ không phải là Trí Tuệ thế gian bình thường).
Em hy vọng những phần trình bày trên đây, đáp ứng được phần nào, ý kiến đóng góp của độc giả Nặc Danh, về câu hỏi là Niết Bàn ở đâu. Ðể minh họa tiếp, làm sáng tỏ vấn đề thêm nữa, em xin lấy một mô hình điển hình, mà người ta thường mô tả về Niết Bàn, bằng hai thí dụ sau:
1. Khi có một chất đốt và oxygen, đủ những điều kiện thì thành ngọn lửa. Nói một cách khác, ngọn lửa là có, cứ có đủ điều kiện thì ngọn lửa xuất hiện.
2. Cứ có đủ bộ phận ráp vào thì thành một chiếc xe.
Trường hợp Niết Bàn cũng vậy, căn cứ vào phần mô tả ở trên:
1. Có một Thực Thể nào đó tu Thiền Định.
2. Thực Thể đó diệt được 10 Phiền Não, đạt được 4 Quả Vị, gọi là Đạo Tâm, biết được việc này gọi là Đạo Quả.
3. Lấy đối tượng Quán Tưởng là 3 Pháp Ấn: Vô Thường, Vô Ngã, Khổ Não.
Nếu tất cả 3 yếu tố kể trên đạt được chất và lượng cần và đủ , thì Niết Bàn sẽ xuất hiện.
Tưởng cần phải nhắc lại, Niết Bàn chỉ có ở những người tu Thiền Định bất cứ ở trường phái nào, miễn đạt được những yêu cầu cần và đủ nói trên.
Người tu theo trường phái của ngài Tuệ Viễn gọi là Tịnh Độ, thì chỉ có cõi Cực Lạc, không liên quan gì tới Niết Bàn. Một điều dễ giải thích, vì không đạt được 3 yếu tố kể trên. Thật sự họ không nhắm tới mục đích Niết Bàn, mà họ nhắm tới thế giới Cực Lạc của ngài Tuệ Viễn. Quý vị thử suy nghĩ sẽ thấy điều này cũng hợp lý thôi.
Với rất nhiều trường phái khác, thì Niết Bàn không có chỗ đứng trong cách tập luyện của từng trường phái một. Thí dụ như Ðại Thừa Phật Giáo, với quan điểm Bồ Tát Đạo, thì Niết Bàn không được đề cao. Vì Bồ Tát phải hoãn lại việc nhập Niết Bàn, để đợi toàn bộ chúng sanh được Giải Thoát.
Ðể kết luận, em chủ quan nghĩ rằng, Niết Bàn là một trạng thái An Tịnh, vắng bóng các Phiền Não. Nó chẳng ở đâu, nhưng có lẽ vì vậy mà ở tất cả mọi nơi. Khi mình Tương Ưng thì nó sẽ hiện hữu.
Em xin chân thành cám ơn quý cử tọa Nặc Danh, Hoa nở mùa đông, Diệu Minh, Tây Ðộc, Tào lao xịt bụp, holo, hổ nước tương, hoa sen trăm đóa …
Trân trọng kính chào toàn thể quý cử tọa.
Khui Hụi * Tịnh Độ * Nhân Quả
. . . c u ộ c t u h à n h b a y v à o b a y r a & n g u y ệ n . . .
Kính thưa quý độc giả của CTR blog,
CTR tiếp tục nhận được một lá thư từ quý độc giả nickname Ruoinhua. Chắc hẳn quý vị còn nhớ, đây là tác giả bài viết: "Khui Hụi". Bài viết này cho đến hôm nay đã có 414 lượt truy cập và 25 comments, và dường như vẫn còn tiếp tục nhận được quan tâm của quý độc giả gần xa. Hôm nay, CTR xin đăng tải toàn bộ lá thư thứ hai do Ruoinhua gởi đến.
Kính mời quý vị cùng theo dõi:
.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.
Xin kính chào quý độc giả đang theo dõi đề tài KHUI HỤI.
Ruoinhua mới đọc được một phản hồi về bài viết "Khui Hụi" rất hay của TLT trên đạo tràng HSTĐ. Với tinh thần muốn tìm hiểu sự thật, TLT đã đưa ra nhiều câu hỏi rất sâu sắc, khách quan, và những thông tin này ít nhiều có liên hệ đến CTR blog. Do đó xin TLT hoan hỉ cho phép RN được trích dẫn bài viết này gởi đến CTR. RN tin rằng những gì TLT thắc mắc, nó cũng là thắc mắc chung của nhiều người; trong đó có bản thân RN.
Bài viết của TLT như sau:
KHUI HỤI – TỊNH ĐỘ - LUẬT NHÂN QUẢ
Con thuộc loại "thực dụng” nên hay théc méc,
Hôm trước thì con thấy tình hình an ninh có vẻ "ngầu ngầu“ quá nên con “sợ sợ” không dám viết.
Nhưng hôm nay thì hình như con hơi … khùng khùng, nên con viết và hỏi luôn ạ.
Nếu đứng về khía cạnh Cá nhân riêng biệt thì khi đọc “khui hụi” này, thì sẽ thấy sự đụng chạm và nó lên tột đỉnh khi Cá nhân được nói đến có Chức vị (nói theo đời, còn nói theo đạo là Quả vị).
Có điều là mình thấy trên web CTR và cũng có ở HSTD - tấm hình của 1 cô gái “trần trụi” đang ATCNDTM để nói lên chân lý “Sự Thật”.
Nhưng có lẽ vì sự “trần trụi” vẩn còn da thịt, nên vẫn còn “cảm giác” của dây thần kinh dưới da, tùy theo nhìn nhận của từng người về mức độ của “Sự thật”.
Mức độ cảm giác chắc sẽ không còn khi người tu (cao đến độ) - tấm hình cô gái chỉ còn là hình … bộ xương, thì lúc đó chắc sẽ không có ai cảm giác gì.
Tất nhiên Bác Sơn Alahán và Chú Tibu Bồ Tát, không bao giờ trách đệ tử cả vì các Ngài cũng biết trước chuyện gì sẽ xảy ra.
Và thôi vậy! Cho con xin lỗi - được “bỏ qua” về Chức vị cá nhân, để nhìn vấn đề rõ ràng cho rõ ràng hơn.
- Từ bài của anh HHDL nói về Bác Sơn, Tịnh Độ, mà tụi con mới có các bài pháp Tịnh Độ của Thầy, và về những điều Thầy biết về cách hành Pháp (không biết dùng chữ nào khác) của Bác Alahán.
Như vậy thì Bác Alahán tuy không thuyết pháp nhưng Danh và bản thân Ngài cũng là bài Pháp cho chúng con. Cho nên, khi con viết / hỏi những lời dưới đây thì xin các Ngài cũng … tha thứ cho con.
- Con nghĩ sao nói vậy nha (và tất nhiên điều con nghĩ có thể là không đúng).
Trích dẫn (từ bài viết của Tibu):
Anh Sơn có kể cho tibu nghe là Anh có làm chuyện độ tử chuyện này là lúc đầu khi Anh còn đang tu tập, nhưng khi đưa người ta cõi cao hơn, thì người ta bị cũng bị chết, và bị chết liền.
Sau này tibu hiểu là khả năng hồi hướng cho người đó: Anh Sơn "không làm được".
Vì vậy Anh mới là Độc Giác Phật.
Coi cách làm việc của anh ấy thì biết:
Nếu có thể hướng dẫn cho ai đó: Anh cũng hướng dẫn, nhưng đến lúc nào đó thì Anh ngưng.
Tibu hiểu là: hướng dẫn thêm để làm gì, vì người đó hểt làm nỗi rồi (là do phước báu của người này đến đây là hết).
Một khi Anh ấy hướng dẫn cho bất cứ ai là...
Anh ấy làm rất là kỹ lưỡng và rất là dữ dội.
(Hết trích dẫn)
Trong bài Thầy viết, thì con thấy Bác Alahán rất từ bi, vì Bác rất muốn độ những người mất, nhưng Bác làm "không được”.
Cái “không được” không phải là do tâm Bác không muốn làm mà vì có “cái gì đó” làm cho Bác không làm được.
Cũng vậy, Bác cũng muốn chỉ cho người ta Tập, nhưng cũng không có kết quả cao,mà cũng vì “cái gì đó” làm cho ra kết quả như vậy.
->Như vậy, nếu có 2 Vị cùng đạt quả vị Alahán thì “Chân lý Từ Bi “ đều … như nhau, nhưng “Chân lý làm - kết quả được hay không” thì nó lại do do ảnh hưởng ... biệt Nghiệp của mỗi người (phải không ạ).
Có nghĩa là :
- Nếu mình cố gắng “đi” (tu) đến đời sống cuối cùng, thì con đường vẫn là con đường.
Con đường và đích cuối cùng (Niết bàn) nó vẫn mở (dù mình có đi/đến hay không) - ăn thua chỉ là nỗ lực của bản thân mình.
Và vì cùng đi trên 1 con đường đó :
- Nếu xét về 1 đời sống của quả vị cao nhất - thì do đi trên cùng 1 con đường nên “bản chất” của mỗi người - quả vị cao nhất - đều giống nhau (chân lý từ bi).
- Nhưng nếu xét về nguyên hệ thống đời sống A tăng kỳ kiếp - thì 2 Vị cùng đạt quả vị như nhau sẽ có hai hệ thống “sống” khác nhau, và lúc này thì là do … Luật nhân quả chi phối và kéo dài dài … dài ra - để tạo nên hệ thống biệt nghiệp cá nhân khác nhau – tuy cùng đi /đến đích của con đường đó
- Khi nói về nghiệp ác này nọ, thì Thầy hay lấy ví dụ từ bản thân mình ra (kiếp xưa đánh người, tham lam, ...) để mà nói Pháp, nên nếu có nói “xấu” Thầy “tệ” hơn nữa thì mọi người lại thấy cũng ... bình thường thôi.
Nhưng nếu nói về Bác Alahán thì mình lại ... không quen, nên lại thấy đụng chạm (nhưng con xin lỗi rồi, nên không sao … hehehe).
Cho con hỏi:
1. Thật tình thì con thắc mắc lắm: là tại sao Bác ấy biệt nghiệp nặng nhưng lại tìm ra cách tu hành thành công cho bản thân mình - trước Thầy luôn.
Bác ấy không giúp đỡ người khác tu được nhưng sao ai đó đã giúp Bác ấy tu thành công được (hay tại vì Bác không bỏ Thầy ra đi, như Chú phải không ạ?)
2. Cái “làm không được”(ở trên) là do biệt nghiệp mạnh chi phối?
Hay là do Nguyện mạnh - bay ra (màn Vô minh) chi phối nhiều hơn ạ?
3. Biệt nghiệp nào gọi là nặng ơi là nặng ảnh hưởng đến tu hành, Nguyện và Niết bàn hả Thầy?
VD:
Chiến tranh: 1 người nồ súng pằng pằng … và 2, 3 người chết
Còn một người âm thầm đi phá thai thì … cũng 1 người chết nhưng lại nặng hơn ?
4. Người có Nguyện mạnh (đến nỗi làm được việc đó) - giúp người/bay vào/bay ra (Vô minh) - là có phải do ảnh hưởng của Bản chất của nhiều đời sống hệ thống A Tăng Kỳ Kiếp của người đó phải không Thầy?
Con không hiểu lắm phần Thầy nói về giấc mơ của Tũn
Trích dẫn (từ bài viết Tibu)
Cuộc đời dưới mắt người tu sĩ là như vậy đó: Có chuyện gì là nghiêm trọng đâu! Một khi tai họa lớn nhất chưa xảy ra?
Tu đúng hay là tu sai thì lúc này nó sẽ lòi ra hết!
Đối với người có nguyện lực là "bay ra ngoài" mà có kết cuộc là "bay vào trong" thì hết hơi!
Đối với người phát tâm dũng mảnh là "bay vào trong" mà lại kết cuộc bằng cách bay ra ngoài thì thật là đau thương cho những người đang ở lại!
(hết trích dẫn)
- Cái cách/ kết cuộc tu hành bay vào/ bay ra và Nguyện không đồng bộ thì nó làm ảnh hưởng như thế nào ?
(nếu mình Nguyện “bay vào” nhưng kết cuộc mình “bay ra” thì mình ... ra luôn không được hả Thầy?)
4. Khi Bác Sơn Alahán độ tử cho người ta thì ý định Bác là độ về cõi nào hả Thầy?
Do không có “Cõi nào tiếp nhận người mất” hay do Bác “không làm được” nên người mất, lại mất luôn ạ?
5. Đức Phật Thích Ca - Ngài cũng đã độ tử - và như vậy Ngài độ họ lên cung trời Đao Lợi như Mẹ Ngài hay Ngài đưa lên Cõi của Vị Cổ Phật ạ?
6. Con hỏi câu này - Thầy đừng “la trong lòng” con nha !
Có phải là do Nguyện Bồ Tát của Thầy có trước, nên Thầy mới thấy Phật A Di Dà (do đồng dạng với Ngài) và sau đó mới độ tử người mất được lên Cõi A Di Đà? Hay là Nguyện của Thầy có, sau khi gặp Ngài ạ?
Khi Thầy gặp Ngài thì Thầy có “chìa khóa” và Thầy giao “chìa khóa” đó cho các Nhí - nên các Nhí mới gặp được Phật và độ tử được dù Nhí chưa có Nguyện?
Hay là vì Nhí có chìa khóa + có tâm đồng dạng với Ông Phật A Di Đà rồi nên Nhí mới gặp được Ngài và làm độ tử được?
Và bây giờ nếu Thầy giao “chìa khóa” cho Bác Sơn Alahán thì Bác ấy cũng gặp được Ngài và độ tử được phải không ạ (vì con thấy Bác ấy cũng Từ bi mà).
Dạ, thôi con ngưng ạ.
Con cám ơn
Kính
... "Tổng Quản có chấp nhận
thành tựu của Ngài Tibu?" ...
AX: @ cuộc họp báo 12
- CTR có phủ nhận phương pháp của HSTD không?
+ Nếu phủ nhận thì phương pháp ATTNĐTM với các đề mục thiền định của Thiền nguyên thủy (như lửa, nước...) theo chủ trương của HSTD cũng là sai?
+ Nếu công nhận thì có công nhận thành tựu của những người đạt kết quả của bên HSTD không? hay chỉ phủ nhận thành tựu của riêng nhân vật HHDL?
- Ông Tibu bên HSTD công nhận thành tựu của "Tiền Bối" Tổng Quản. Còn Tiền Bối Tổng Quản có chấp nhận thành tựu của Ngài Tibu?
(vì thấy có nhiều tranh luận giữa CTR với HSTD nên mới hỏi vậy)
AX. (Nặc Danh đã hỏi mấy câu ở topic KHUI HỤI)
- Tam Tiểu Thư: Em xin kính chào toàn thể quí cử tọa!
Em xin kính chào quý cử tọa AX
Chắc quý cử tọa còn nhớ, phần đầu câu hỏi này, đã có quý cử tọa thay mặt tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp đóng góp. Hôm nay em xin trực tiếp đóng góp phần cuối của vấn đề này.
Em thiết nghĩ đây là một vấn đề tế nhị và phức tạp. Tốt nhất là chúng ta thử một lần nhìn lại tiến trình lịch sử của nhân loại. Những vấn đề tương tự như câu hỏi quý cử tọa đã nêu ra, tuy xuất hiện ở những dạng khác nhau, nhưng dường như chúng mang cùng một bản chất là sự tranh chấp về quan điểm Tôn Giáo, về vấn đề đẳng cấp, giai cấp giữa các trường phái.
Những bất đồng ý kiến, bất đồng tư tưởng của các người đứng đầu các trường phái … đã gây ra nhiều hậu quả mà quý cử tọa có thể đã từng có cơ hội biết đến khi đọc qua những diễn tiến lịch sử (tất nhiên chỉ một số diễn tiến nào thôi). Thế nhưng ít nhất chúng ta cũng nhận ra một điều: Thân phận con người là mục đích hay là nạn nhân thảm hại, đáng thương trong các cuộc tranh chấp giữa các Tôn Giáo với nhau và chính trong nội bộ các trường phái của một Tôn Giáo? Ở đây chúng ta chỉ duyệt xét 4 trường hợp mang tính cách điển hình:
1. Vấn đề giai cấp tại Ấn Ðộ.
2. Những cuộc Thập Tự Chinh.
3. Giáo hoàng Bônifaciô VIII.
4. Sự kiện ngày 11 tháng 9.
Trước khi tiếp cận với những sự kiện lịch sử nói trên, em cũng xin thưa ngay là trên thế giới đã có nhiều tuyên ngôn kêu gọi con người tôn trọng giá trị con người.
Ðiển hình như bản tuyên ngôn cộng sản năm 1948 của Karl Marx :
"Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay, chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp. Người tự do và người nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả và thợ bạn, những kẻ áp bức và những người bị áp bức, luôn luôn đối kháng với nhau, đã tiến hành cuộc đấu tranh không ngừng …"
Bản Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc Tế, năm 1948:
"Công nhận quyền bình đẳng không thể tước đoạt, phải được tuyên xưng như là ước vọng cao nhất của con người. Chế độ nô lệ bị nghiêm cấm, tất cả mọi người đều bình đẳng.
Không một ai bị xâm phạm một cách độc đoán về đời sống riêng tư, gia đình, xúc phạm danh dự hay tiếng tăm của mình … Mọi người đều có quyền được luật pháp bảo vệ trước những xâm phạm và xúc phạm ấy.
Quyền Tôn Giáo và thay đổi Tôn Giáo, quyền tự do biểu lộ Tôn Giáo hay tín ngưỡng của mình, cách thực hành thờ phượng và áp dụng các nghi thức đạo giáo".
Em rất mong quý độc giả AX quan tâm tới phần trình bày của Karl Marx và Tuyên Ngôn Nhân Quyền, đặc biệt là vấn đề đề cập tới Tôn Giáo.
1. Vấn đề giai cấp tại Ấn Ðộ:
Triết lý Ấn Ðộ chính thống bắt nguồn từ những tài liệu gọi là Veda. Có thể coi những tài liệu đó là những lời thơ ca tụng Thần Linh, những thế lực thiêng liêng được nhân cách hóa. Người Ấn Ðộ coi tài liệu Veda là Thánh Kinh. Cũng như rất nhiều Tôn Giáo khác, người ta cho rằng những tác giả của thi ca Veda là những người đã được Mặc Khải với Thần Linh cho nên mới có thể viết ra những tài liệu thi ca Veda.
Sự thật việc dẫn kênh với các Thần Linh ra sao? Các tu sĩ Veda họ đã sử dụng một thứ nước có chất say gọi là Soma. Chất say này có tác dụng như một chất xúc tác làm cho họ mất đi lý trí. Họ tự Thôi Miên mình để tưởng rằng mình là Thần Linh.
Em thấy rất nhiều quý cử tọa có đề cập tới cách tập Quán Tưởng một vật cố định nào đó, rồi lan ra hình ảnh của ai đó, rồi coi như đã chứng đắc một cái gì đó … Nếu quý độc giả quan sát phần viết nói trên, thì đây là một hình thức khá phổ biến trong các loại Tôn Giáo trên thế giới.
Trường phái Ðại Thừa của Phật Giáo cũng hay đề cập tới phương pháp tương tự. Theo họ đầu tiên là sử dụng kỹ thuật Nhập Định, sau đó dẫn kênh với vị Phật nào đó, rồi tự cho mình là được Mặc Khải bởi một đấng thiêng liêng nào đó, viết ra nhiều cuốn Kinh Ðại Thừa mà ngày hôm nay chúng ta đang đọc.
Tình trạng ở Ấn Ðộ cũng giống như nhiều nơi khác. Ấn Ðộ có 4 bộ Kinh cổ của Veda mà nhiều người đã biết, ở đây chúng tôi không nhắc lại. Căn cứ vào tài liệu này, khi chưa khai thiên lập địa thì chỉ có một linh hồn vũ trụ duy nhất gọi là Brahman. Linh hồn ấy sự thật là Thượng Đế Tam Vị Nhất Thể.
* Brahma: Sáng tạo * Vishnu: Bảo toàn * Shiva: Phá hủy
Người Ấn Ðộ tin là Brahman sáng tạo ra người đầu tiên là Manu, từ đó Manu đẻ ra nhân loại.
Không phải tất cả nhân loại trên quả địa cầu đều bình đẳng, mà khởi thủy đã có năm loại hạng người khác nhau:
a. Sinh ra từ cái miệng của Brahma là những giáo sĩ Bà La Môn, giữ quyền thống trị tinh thần, phụ trách lễ nghi cúng bái, cầm cương lãnh đạo tinh thần dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn kính, an hưởng cuộc sống sung sướng nhất.
b. Tự cho mình sanh ra từ cánh tay của Brahma, đó là Vua Chúa, nhà quý tộc, thay mặt cho Brahma thống trị dân chúng.
c. Sanh ra từ bắp vế của Brahma, là thương gia, chủ điền, đảm đương vấn đề kinh tế: Mua bán, trồng trọt, thu lợi cho quốc gia.
d. Sanh ra từ gót chân của Brahma là người hà tiện, nô lệ, suốt đời làm khổ sai cho cấp trên.
e. Baria giống người cùng khổ, sống ngoài lề xã hội, bị những giai cấp trên đối xử như thú vật vô cùng khổ nhục, tối tăm.
Mặc dù đã trải qua trên 4000 năm, nhưng thực sự phải nói rằng tai họa mà Kinh Veda đã gieo rắc cho xã hội Ấn Ðộ vẫn còn ảnh hưởng kéo dài cho đến tận ngày hôm nay. Trên thực tế, một đẳng cấp nào đó, lại chia ra không biết bao nhiêu đẳng cấp phụ (người ta ước tính có thể cả ngàn).
Cái tai hại nhất của đẳng cấp là nó khiến cho con người không có khả năng để phấn đấu, để vượt lên số mệnh của mình. Sanh ra ở đẳng cấp nào, thì trọn đời sống ở đẳng cấp đó. Tư tưởng này kể cả đến ngày hôm nay vẫn là một bài toán khó giải.
Chính quyền Ấn Ðộ đã nhiều lần xóa bỏ giai cấp bằng luật pháp, nhưng thực tế đến ngày hôm nay việc đó vẫn chưa thực hiện được.
Qua hiện trạng này tại Ấn Ðộ, một người có một lương tri, một lương tâm đạo đức lành mạnh, tự hỏi mình có nên tái diễn việc phân chia các đẳng cấp, phân chia các thứ hạng trong các loại Tôn Giáo hay không? Phần trả lời chúng tôi mong rằng quý cử tọa sẽ nhiệt tình đóng góp.
2. Thập Tự Chinh:
Thập Tự Chinh là những cuộc chiến tranh Tôn Giáo, được kêu gọi bởi Giáo Hoàng và người thực hiện là các vị Vua Chúa, các nhà Quý tộc, Hiệp sĩ. Những cuộc chiến tranh này kéo dài trong hai thế kỷ, từ 1095 cho đến 1291. Tổng cộng có vào khoảng 11 cuộc hành quân lớn.
Có rất nhiều lý do để đưa tới những cuộc hành quân nói trên. Mặc dù những cuộc Thánh Chiến mang đậm màu sắc Tôn Giáo, nhưng giới sử học cho rằng bên trong nó còn có các động cơ kinh tế, chính trị, xã hội. Hai lực lượng đối đầu nhau là những người Kitô giáo và người Hồi giáo. Chiến sự xảy ra một vùng rộng lớn ảnh hưởng tới nhiều quốc gia.
Chúng ta hãy tưởng tượng chúng ta là cư dân ở trong vùng có chiến tranh, kéo dài 200 năm, thì chúng ta sẽ nghĩ thế nào. Thiết nghĩ có lẽ chẳng ai mong muốn lịch sử lại tái diễn như vậy.
3. Giáo hoàng Bônifaciô VIII:
Giáo hoàng Bônifaciô là người tin tưởng chắc chắn quyền thiêng liêng, tối thượng của Giáo hội. Giáo Hoàng tự cho mình là có quyền gián tiếp trong lĩnh vực trần thế đối với các Vua Chúa.
Chính vì quan điểm cứng rắn này tạo ra cuộc tranh chấp với vua nước Pháp là Philipe le Bel.
Giáo Hoàng cấm các giáo sĩ nộp tiền thuế cho vua nước Anh, Pháp. Để đáp trả, vua Philippe cấm đưa tiền và vàng ra khỏi nước, trục xuất các nhân viên thâu thuế của Giáo Hoàng và các chủ ngân hàng Ý hoạt động cho Roma. Thế là thư từ qua lại tới tấp, gây nên một cuộc bút chiến.
Vấn đề trở lại vào năm 1301. Giáo Hoàng Bonifacius quay lại chống vua Philippe le Bel. Trong khi vua Pháp đưa ra tòa kết án Giám Mục Pamiers Saisset, Khâm Sai Tòa Thánh, vu cáo tội dấy loạn năm 1301, thì Giáo Hoàng đòi phóng thích, tuyên bố rút lại các đặc ân đã ban và ban hành Tông Chiếu Ausculta fili, triệu tập Công Đồng giải quyết chuyện nước Pháp. Cuối cùng vua nước Pháp tự tuyên bố là quyền bính của mình là do Thiên Chúa ban cho chứ không phải là do Giáo Hội. Giáo Hoàng lại tuyên bố: "Ta tuyên bố, quả quyết, giải thích và báo cáo rằng muốn được cứu rỗi, người nào cũng tuyệt đối cần phải phục tùng Giáo Hoàng Roma". Đáp lại, nhà Vua tự khẳng định quyền tối cao trong Vương Quốc và tố cáo Giáo Hoàng lên chức bất hợp pháp, mại Thánh và bội ước. Cuối cùng Giáo Hoàng bị bắt, rồi được phóng thích và qua đời 3 tuần sau.
Em rất mong các trường phái Tôn Giáo, bất cứ là trường phái nào, cũng đừng chính trị hóa Tôn Giáo của mình, đừng thế quyền hóa khi có chút Thần Quyền trong tay. Vị Giáo Hoàng kể trên là một cái gương cho những vị Giáo Chủ nào đó lại có ý định bắt lịch sử phải tái diễn.
4. Sự kiện ngày 11 tháng 9:
Người ta cho là có lẽ lời tuyên bố của trùm khủng bố Bin Laden: "Giết người Mỹ ở tất cả những nơi nào trên thế giới có thể", là động cơ cơ bản đã đưa đến cuộc khủng bố 11/9 tại nước Mỹ. Tuyên bố này dựa trên một giáo lệnh ban hành năm 1998 bởi Bin Laden. Chính giáo lệnh này lại là lời mở đầu phần trích dịch Kinh Koran: "Hãy giết những kẻ ngoại đạo bất cứ nơi nào ngươi tìm thấy chúng" và cuối cùng là đưa đến kết luận đó là "Nghĩa vụ của mỗi người Hồi Giáo". Tuyên bố còn nói thêm rằng "Toàn thể chức sắc suốt trong dòng lịch sử Hồi Giáo hoàn toàn đồng ý rằng, Thánh Chiến là bổn phận của mỗi cá nhân, khi kẻ thù tìm cách hủy diệt các quốc gia Hồi Giáo". Trong một cuốn băng video 2004, Bin Laden nói rằng hành động này là "Phục hồi sự tự do cho dân tộc, trừng phạt kẻ xâm lược … ". Người ta cố biện minh rằng đây là cuộc chiến giữa cái Thiện và cái Ác.
Kết quả là có 2999 người chết, 6291 người bị thương.
Em mong là qua phần trình bày của những sự kiện lịch sử nói trên, tuy chỉ là những sự kiện mang tính chất tượng trưng, nhưng có lẽ nó nói lên rất nhiều ý nghĩa, mà một người bình thường phải suy tư.
Sự thật các trường phái Tôn Giáo qua chiều dài lịch sử nhân loại, đã làm được điều gì thiết thực cho con người? Nếu các trường phái Tôn Giáo coi con người là mục đích để phục vụ thì có lẽ những sự kiện lịch sử nói trên đã không xảy ra. Người ta phải tự hỏi, con người là một mục đích để Tôn Giáo phục vụ hay con người chỉ là nô lệ của Tôn Giáo, là công cụ của Tôn Giáo? Người ta lợi dụng niềm tin của con người, biến con người thành nô lệ cho các đẳng cấp Tôn Giáo. Chính lịch sử Ấn Ðộ đã chứng minh điều này.
Quý vị cũng như chúng tôi, chẳng ai mong muốn làm giai cấp nô lệ, bị đối xử như thú vật … thì tại sao lại có người, có những vị chức sắc Tôn Giáo, qua quá trình lịch sử cũng như hôm nay lại có ý muốn biến con người thành những công cụ nô lệ cho mình?
Chúng ta đang ở thế kỷ 21. Bản Tuyên Ngôn của Karl Marx là một tiếng chuông cảnh tỉnh cho nhân loại, cho những ai có ý định làm Giáo Chủ, làm những vị Chức Sắc.
Rõ ràng Karl Marx đã nói đúng. Lịch sử của nhân loại là một cuộc đấu tranh không ngừng, giữa những kẻ áp bức và những kẻ bị áp bức. Tất nhiên phải kể đến các Giáo Chủ, hàng Chức Sắc Tôn Giáo và tín đồ.
Mong rằng lịch sử không tái diễn.
Em xin kính chào cử tọa AX và toàn thể quý cử tọa có mặt trong buổi họp báo hôm nay.