Pages

Cuộc họp báo (11) Tiêu Cục Xuyên Vân Kiếm Pháp

- Tâm Như: @ Cuộc họp báo 7

"Qua bài trả lời của CTR ,mình càng cảm phục nhiều hơn,mong các bạn có thắc mắc gì cứ mạnh dạn viết ra hỏi (lợi mình và lợi người), mình nghĩ CTR sẽ giải đáp cho các bạn. Chứ không như vài vị giáo chủ khác bảo "tu đi rồi biết ,tu xong rồi biết,..v..v.." dạ thưa, vì đang tu không biết mới hỏi, tu xong rồi biết rồi hỏi chi nữa! Trả lời kiểu chụp mủ như giáo chủ thì hơi bị giang hồ quá!
Sẳn đây em có thắc mắc này mà từ lâu không biết hỏi ai, vì TN đọc và thấy (bên Tây Tạng) họ tự thiêu để cúng dường Phật. Nhưng TN lại thắc mắc, thân người khó được và cái vụ "đốt thân cúng dường Phật" hư thực ra sao ah? Hàng nhái Trung Quốc toàn hóa chất gây ung thư cho con người, nó giống hàng nhái thiên đường, vậy những người như TN làm sao phân biệt để tránh bị ung thư trên đường tu gặp phải hàng nhái?
Cám ơn nhóm CTR!Chúc tất cả mạnh khoẻ và tinh tấn!"


- Tam Tiểu Thư (khỏe khoắn, mạnh mẽ, gọn ghẽ như mọi ngày, ánh mắt linh hoạt, tươi cười, vui vẻ, nghiêm trang): Em xin chào chị, hân hạnh được gặp lại chị. Em xin đóng góp một số thông tin từ cuốn tạp thư, về vấn đề chị nêu ra; đó là về việc "tự thiêu để cúng dường".

Kính thưa chị! Theo chỗ em biết, không biết đúng hay sai đây nữa, thì trường phái Phật Giáo của Sakya Muni, dường như đồng nghĩa với: Can đảm, từ bi, trí tuệ.

Với tinh thần này, chúng ta tự hỏi, ở cõi Niết Bàn, là nơi phiền não đã khô cạn, dục vọng đã hoàn toàn triệt tiêu, thì không biết ngài Sakya Muni nghĩ gì khi phải nhận một món quà "Egregious Barbecue". Ðặt giả thuyết là, nếu Ngài nhận món quà này, thì Ngài có gì để trao đổi?

Với tiêu chuẩn là từ bi và trí tuệ, thì e rằng món quà này đã biếu lầm người. Dường như Sakya Muni lúc tại thế từng cho biết "Mọi người phải tự thắp đuốc mà đi". Và trước khi rời cuộc sống thế gian Ngài đã nói "Thầy của mọi người là sự hiểu biết đúng đắn". Nói một cách khác, dù có biếu xén cái gì quý giá đi nữa, kể cả sanh mạng của mình, Ngài tuyệt đối không có gì để trao đổi.

Một người bình thường ai cũng biết mình không thể có hạnh phúc trên khổ đau của người khác: Vì làm vừa lòng mình mà người khác phải tự biến mình thành một món Barbecue. Không lẽ một vị gọi là Chánh Đẳng Chánh Giác lại không biết cái điều căn bản đó?

Có lẽ người ta có thể giải thích theo hai cách:

- Theo Phật Giáo Tây Tạng.
- Theo Phân Tâm Học.

1. Theo Phật giáo Tây Tạng: Nếu thật sự nhìn ở góc cạnh học thuật một cách khách quan, thì Phật Giáo Tây Tạng là của Tây Tạng, và nó gần như không liên quan gì tới Phật Giáo của Ngài Sakya Muni tại Ấn Ðộ. Chắc mọi người đều biết, Phật Giáo Tây Tạng có những Kinh sách ẩn giấu gọi là “Gterma”. Nó được coi như Thánh Kinh quý báu, chỉ có những người được mặc khải mới có thể phát hiện ra chúng. Tài liệu này có được in ra bằng tiếng Việt Nam. Cũng như Phật Giáo của nhiều khu vực Á Châu khác, các tác giả (đôi khi không có tên tác giả), cố tìm cách chứng tỏ phả hệ, liên hệ với Phật giáo chính thống Ấn Ðộ (Indian Buddhist Pedigree Or Affiliation).

Do đó việc tự thiêu ở đâu đó, cũng như việc tự đầu độc mình, kéo dài trong nhiều năm nhằm mục đích tự ướp xác như ở Nhật Bản có lẽ không liên quan gì tới Phật Giáo của Ngài Sakya Muni. Người thế gian phong những vị nói trên là Phật, còn sự thật có đạt được trạng thái Trí Tuệ, Giác Ngộ hay không thì không ai biết.

Có lẽ mọi người ai cũng biết, qua quá trình tập luyện của chính bản thân mình, Ngài Sakya Muni đưa ra quan điểm tu tập là Trung Đạo, tránh hai trường hợp cực đoan sau đây mà em xin phép nhắc lại:

- Buông thả trong những dục lạc thú vui thấp hèn.
- Hành thân hoại xác một cách vô ích.

Với tinh thần này, một người quê mùa thiếu hiểu biết như em, cũng không thể tin là việc tự thiêu, hành hạ chính bản thân của mình một cách cực đoan lại có một hệ quả tốt. Mặt khác, có lẽ công bằng mà nói, không nên đổ cho Trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy có lối tu tập kinh hoàng như thế này.

Tuy nhiên, cũng có người nêu ra lý do sau đây, dựa vào kinh "Tiền Thân Ðức Phật" (Jataka). Theo tài liệu này, chính bản thân Sakya Muni trong nhiều kiếp, có những hành động tương tự như nói trên. Rất mong quý cử tọa lưu ý, bình thường mà nói, ai cũng nghĩ rằng, kinh Phật Giáo tức là Kinh Phật Giáo, là lời Phật nói, là những gì có giá trị thiêng liêng không thể nghĩ bàn. Chính suy nghĩ thật thà này của chúng ta, đã bị những tác giả viết những cuốn
Kinh Ngụy Tạo, lạm dụng. Cuốn Kinh "Tiền Thân Ðức Phật" chính là một trong những cuốn kinh ngụy tạo rất được phổ biến tại Ðông Nam Á. Người ta không ngờ rằng, mình lại là một diễn viên bất đắc dĩ trong tấn bi kịch của các loại Kinh Ngụy Tạo.

Việc tự thiêu chỉ là một sáng kiến có tính cách địa phương, cho là để cúng dường Ngài Sakya Muni. Việc này hoàn toàn không liên quan gì đến trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy. Thật vậy, bất cứ ai chịu khó dành một ít thời gian đọc tài liệu Trung Bộ Kinh (em xin nhắc lại là Trung Bộ kinh) … chúng ta không thể tìm thấy một mô hình nào đó, gợi ý cho một lối tu tập, đầy máu và nước mắt bằng cách tự thiêu để cúng dường. Mặt khác, kể cả từ ngữ cúng dường, dường như cũng được bắt nguồn từ các cuốn Kinh Ngụy Tạo. Tư tưởng này chúng ta có thể tìm thấy trong bộ kinh ngụy tạo của Trung Quốc là "Ðại Báo Phụ Mẫu Trọng Ân". Tài liệu này gợi ý thúc đẩy tín đồ cúng dường Tam Bảo là: Phật, Pháp, Tăng … Hành động cúng dường, thực tế là biếu xén thì ai được hưởng? Chắc chắn ai cũng biết, Phật và pháp chẳng được hưởng cái gì cả … Chính vì lý do này mà Các Mác gọi đó là liều thuốc phiện ru ngủ làm con người mất đi lý trí … Các cơ sở Tôn Giáo thì ngày càng hoành tráng nguy nga còn tín đồ thì …

2. Phân tâm học: Theo bộ môn Phân Tâm Học thì con người có hai bản năng đối nghịch nhau:


- Bản năng bảo tồn / Bản năng chết.

Hai bản năng này lệ thuộc vào nhau và cùng chung sống trong một cá thể, không thể tách rời, chúng hòa tan và trộn lẫn vào nhau.

Bản năng thì có bản chất là sinh học và tâm lý. Bản năng là một khái niệm vô cùng cơ bản, vừa mơ hồ vừa truyền thống. Đó là sự thúc dục nội tại (Stimulus Interne) được xuất hiện ở nhiều dạng khác nhau, nó là một lực bền bỉ (Force Durable) và người ta không thể tránh được lực này (On Ne Peut L’Eviter). Người ta còn có thể định nghĩa bản năng là một thứ nhu cầu, nhu cầu cần được thỏa mãn. Nhu cầu này có thể có hai lối thoát, một là thăng hoa (Sublimation), hai là bị dồn nén (Refoulement). Xin nhắc lại, người ta có hai bản năng cơ bản (vì còn rất nhiều bản năng phụ) đó là bản năng bảo tồn và bản năng chết.

- Bản năng bảo tồn là tiên đề của Sadisme.
- Bản năng chết là tiên đề của Machosisme.

Chính Machosisme là tác nhân của việc tự thiêu. Từ việc hành hạ bản thân của một em bé để làm cho mẹ chú ý, cho đến người trưởng thành thực hiện các dạng tu khổ hạnh, cảm thấy hạnh phúc khoái lạc trong việc hành hạ chính mình kể cả trong tình cảm yêu đương:

"Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé"
"Còn chờ ngàn kiếp sau, một tiếng ca tiếng ca tạ từ. Bàn tay đã như xanh xao đan cuộc tình mù lòa trọn đời mình …"

 

Có lẽ chính yếu tố Machosisme đã thúc đẩy việc dâng lễ vật "Barbecue" chứ không nên đổ cho là tư tưởng của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy

- Tư Thóc: @ Cuộc họp báo 8

Tư Thóc tui lang thang trên nét đọc được câu chuyện này vào chia sẻ cùng các bạn đây: 

* An old Cherokee told his grandson: about a battle that goes on inside people. "My son, there's a battle between two wolves inside us all. 

* One is Evil - It is anger, envy, selfishness, failure, jealousy, greed, lies, sorrow, regret, arrogance, self-pity, guilt, resentment, inferiority, false pride, superiority, and ego.  
* The other is Good - It is joy, peace, love, hope, happiness, prosperity, success, serenity, humility, kindness, benevolence, empathy, generosity, truth, and compassion". 
* The boy thought about it then asked: "Grandfather, which wolf wins?" 
* The old man quietly replied, "The one you feed". 

So ask yourself and be concious of which wolf you're giving more attention and energy too. Have a good one, everyone!

- Tam Tiểu Thư: Em xin kính chào quý cử tọa Tư Thóc. Em vô cùng biết ơn vì quý cử tọa đã nhiều lần đóng góp nhiều ý kiến làm cho cuộc họp báo thêm sôi động. Ý kiến của quý cử tọa thật suất sắc và trung thực, em kém khả năng không biết diễn tả làm sao nữa. Thôi để cho vui, em xin kể câu chuyện sau đây, nói về cuộc đối thoại của chiếc trực thăng Apache và Comanche. Câu chuyện bắt đầu như thế này

"An old Apache attack helicopter told to his grandson Comanche helicopter: Trong thân của ta có rất nhiều bộ phận thuộc về "Sắc", đó là phần cơ học. Còn có rất nhiều phần mềm điện tử để điều khiển, tính toán, đó chính là "Tâm" của trực thăng Apache. Mặt khác, còn phải kể đến những vũ khí để tiến công. Ta chính là một cỗ máy hủy diệt (Lethal Weapon) rất đáng sợ. Mặt khác ta lại được trang bị những thiết bị để bảo vệ phi công và xạ thủ: Các avionics, bộ giáp để bảo vệ.

Nói tóm lại, trong ta là cuộc chiến đấu của hàng ngàn con Sói. Vũ khí tấn công là sự sân hận, ích kỷ, ngạo mạn, kiêu hãnh giả tạo. Việc bảo vệ sanh mạng cho pilot và xạ thủ là: Niềm vui, hòa bình, tình yêu, hy vọng, hạnh phúc …
"
 
Comanche suy nghĩ rồi hỏi: "Phần nào sẽ chiến thắng?"

Apache quietly replied: "Lệ thuộc ở nhà chế tạo, lệ thuộc ở phi công và xạ thủ trong cách sử dụng".

- Hoangvu: @ Cuộc họp báo 8
Hi Chị Tam Tiểu Thư!
May i have another cup, same as last pls! Thx Sis ...

Em mong đọc bài này lắm nhưng giờ mới vào được đây. Cám ơn bài trả lời rõ ràng của chị Tam Tiểu Thư và cũng rất biết ơn chị Tâm Như đã hỏi, để em có cơ hội nhận biết và hiểu rõ hơn vị trí cùng việc mình phải làm cho giai đoạn kế tiếp trong tiến trình Thiền định. Đường em đi thì nhất định không đổi rồi, chỉ là nó vẫn cứ lúc lên lúc xuống y như là "my daily life activities" vậy chị à! hihihi ...

Giờ thì em thấy yên tâm hơn khi Thiền, đường đi đã tỏ chỉ còn Tâm có quyết hay không mà thôi. Điều em thấy thoải mái nhất là em có nơi thật tin tưởng để hỏi tất cả những gì em thắc mắc trong quá trình Thiền Định, những trạng thái thậm chí cả Cảnh Giới v.v... Còn nữa, chỉ cần ngồi ngay tại nhà hoặc nơi làm việc chứ không cần phải đi đâu xa cả hihihi ... Đã nhỉ? Em nhớ có lần em phải đi xa lắm để chỉ hỏi một vài câu ngắn ngủi thôi, mà đi thì cũng chỉ hy vọng chứ có chắc là sẽ được gặp các vị được gọi là "Danh Sư" ấy đâu? Cũng may là phước duyên cũng có tí híu nên Ngài cho gặp. Và ngay câu hỏi đầu tiên thì em đã thất vọng mà không dám hỏi tiếp nữa ... Thế là "Giấc Mơ" tìm Thầy của em mãi chỉ là "Giấc Mộng" hihihi ... Từ đó em bỏ luôn cái ý tìm Thầy ... !!!

Vốn của em là "Tu Mò" nên lại "To Mù" hihihi ... May mà nó còn vào được ngưỡng cửa của Sơ Thiền Hữu Sắc để ngắm nghía này nọ là em vui lắm rồi hihihi ... (Còn nữa, em còn vào được một số chỗ nữa nhưng để khi nào tới những bài về Thiền thì em lại hỏi tiếp nhé!).

Điều thích nhất ở đây là không thấy ai là Thầy Bà gì cả? Không biết mai mốt chị Tam Tiểu Thư có đổi ý mà xưng là Bà Thầy không nhỉ? hihihi ... Em đùa thôi! Nhưng chị mà thành Bà Thầy thì chắc em cũng không dám hỏi thoải mái nữa đâu, hay em biến luôn hổng chừng ... hihihi ...

Cuối tuần vui chị nhé!


- Tam Tiểu Thư: Em xin kính chào quý cử tọa Hoang Vu, em xin đóng góp ý kiến phần cuối cùng của quý cử tọa bàn về vấn đề Thầy Bà.

Em thiết nghĩ quý cử tọa, cũng như bất cứ ai có hứng thú với Trường phái Phật Giáo, thì dường như không ai xa lạ gì với khái niệm Ðệ Nhất Nghĩa Ðế. Khái niệm này ngoài tính chất biểu tượng cao, phổ quát cao, có lẽ nó còn có một ý nghĩa khác, em xin phép được nhắc lại, đó là hàm ý tất cả các Thực Thể vốn bình đẳng. Con người tiến bộ bất cứ ở đâu, bất cứ ở thời đại nào, cũng đều mong muốn mọi người được bình đẳng. Trong lãnh vực này, có lẽ Ngài Sakya Muni là người tiên phong, muốn giải thoát con người ra khỏi thân phận tù đầy thấp kém, trước các Thần Linh Thượng Ðế của thời đại Veda và các trường phái không thể kể hết được của Ấn Ðộ Giáo.

Thật vậy, ở Mỹ Châu một vị Tổng Thống nào đó đã từng tuyên bố con người bình đẳng trước Thượng Đế. Tổng Thống khác muốn xóa đi thân phận nô lệ của những người da đen, bắt đầu khởi điểm với tác phẩm: "Chiếc lều của chú Tom". Bên trời Âu, Các Mác đã giải phóng con người khỏi cảnh bị bóc lột và chà đạp nhân phẩm … Tất cả những tư tưởng vĩ đại, ân nhân của nhân loại … đều mong muốn con người được giải phóng, được bình đẳng. Đó là lý tưởng của bất cứ ai có một tri thức luận, có một lương tâm lành mạnh …

Ở một góc cạnh nào đó, ý đồ muốn làm Thầy người khác thật ra chỉ là biểu lộ của mặc cảm tự tôn giả tạo, thực sự để che giấu đi cái mặc cảm tự ti, sự hèn yếu thực sự của chính mình. Mặt khác, còn để lợi dụng tín tâm của các tín đồ như một phương tiện để mưu sinh, kiếm tiền, kiếm rất nhiều tiền, đôi khi cả tình nữa … và rất nhiều thứ khác, mà không phải lao động vất vả như mọi người.

Lịch sử cho biết những khoa học gia chân chánh chẳng có ai là xưng danh là gì cả. Họ đều vất vả cả đời người cho đến chết, lao động vật chất, lao động trí óc … chẳng có thì giờ đâu để tự cho mình một cái tên nào đó. Phần đông những ân nhân thực sự của nhân loại trong tất cả các lãnh vực, đều sống và chết trong nghèo nàn của tủi nhục. Có lẽ họ là những vị Thầy thực sự, nhưng chính họ không biết mình là Thầy.

Kính thưa quý cử tọa Hoang vu!

Trang blog này với tiêu đề là: "Có một không hai, có hai chết liền" là dành cho giới dân gian bình dân, ăn nói những từ ngữ chỉ của giới bình dân … do đó quý cử tọa có thể đoan chắc, ở đây chẳng có Thầy Bà nào cả, cũng chẳng có đệ tử nào cả, chỉ có những quý cử tọa bình dân như chị Tâm Nhu, quý cử tọa Tư Thóc.

Vài lời đóng góp cùng quý cử tọa Hoang Vu, em chỉ là cô gái võ biền quê mùa, nếu có gì sai sót mong quý cử tọa chỉ giáo, em xin vô cùng biết ơn.

- Bé Ba: @ lá thư từ độc giả 4: Khui Hụi

Kính thưa các Cô Chú!

Con nghĩ là Chú Ruoinhua đã thật khéo cô đọng lại toàn bộ tình tiết cho lá thư ngắn gọn và đương nhiên rất lịch sự đấy, thật tình thì chữ " coi bói về tiền kiếp" có nghĩa là: Chú HHĐL đã theo một pháp môn Tịnh Độ rất lạ của hstd, (Niệm Phật Quán Chấm Đỏ) người nhận đề mục phải Niệm và Quán khi nào ra được Chấm Đỏ và từ đó lại đổi sang Linh Ảnh Phật Adida và cứ tiếp tục Quán đến khi nào ra được Linh Ảnh Adida, hình nổi 3D rõ ràng, rồi dùng Ấn thử Linh Ảnh và đây mới bắt đầu cuộc tiếp xúc với Linh Ảnh mà họ tin tuyệt đối là Phật Adida và tu học theo sự chỉ dạy của Linh Ảnh này ...

Từ đây nếu có bất kỳ thắc mắc gì họ đều vào hỏi Linh Ảnh và đương nhiên sẽ được Linh Ảnh trả lời rõ ràng, kể chuyện và cho xem thấy câu chuyện y như xem một video clip vậy, hình ảnh 3D, mầu sắc, âm thanh nổi. (Con cố gắng tường thuật rõ ràng nhưng cũng thật ngắn gọn, nếu chỗ nào không đúng, chưa đúng thì xin các Cô Chú bổ túc nhé! Nhưng con không dám để links lại từng phần vì thú thật nếu mà có ai vì links của con để lại mà vào rồi mắc kẹt trong hstd, thì con có bao nhiêu Phước Báu cũng không đủ chi tiêu đâu, con sợ lắm ... nên mong được th
ông cảm!)

Và câu chuyện "coi bói về tiền kiếp" của Chú HHĐL là do Linh Ảnh Adida của Chú HHĐL kể cho chú ấy nghe đấy! Và có lẽ vì thế mà Chú ấy đã vào kể lể tính toán với Cô Chú CTR là vậy. Con thấy Chú HHĐL này thật lạ khi mới bắt đầu vào đây comment từ bài:


Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 37
Tập 37: Trận Chiến Cuối Cùng Armageddon

            giữa Con NgườiThần Chết (Phần 4)

Mời Cô Chú vào xem lại bài và Comment đầu tiên và câu chuyện mà Chú HHĐL bắt đầu nhé! Con chạy đi kiếm khúc bánh mì gặm rồi chút trở lại sẽ tường trình tiếp cho trung thực hơn, chứ đói quá đánh máy hổng được rồi hì hì hì ...
 

- Tam Tiểu Thư: Em xin kính chào quý cử tọa Bé Ba. Lần đầu tiên em được gặp quý cử tọa thật là một vinh dự lớn lao cho bản thân em và buổi họp báo ngày hôm nay. Em kính mong trong tương lai được quý cử tọa bé Ba thường xuyên quan tâm tới những cuộc họp báo của em. Em là người phát ngôn của tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp, đã từng hiện hữu ở bên Trung quốc cách đây nhiều trăm năm, có lẽ cả ngàn năm.

Trong đóng góp của quý cử tọa Bé Ba, em thấy quý cử tọa thường xuyên đề cập tới vị Phật A Di Ðà, cụ thể là câu "tin tuyệt đối là Phật A Di Ðà và tu học theo sự chỉ dạy của linh ảnh này".

Cá nhân em cũng như nhiều quý cử tọa, qua những bài viết trước, đã nhiều lần trình bày về tiểu sử của ngài A Di Ðà. Lại một lần nữa, em xin đóng góp một tài liệu nữa từ Phật Quang Ðại Tự Ðiển xuất bản tại Ðài Loan năm 1988. Em thiết nghĩ qua tài liệu này, nói đúng hơn là thêm tài liệu này, chúng ta càng hiểu rỏ hơn về tiểu sử người sáng lập ra Tịnh Ðộ Tông, người đã giới thiệu cho mọi người biết nhân vật Phật A Di Ðà. Ðể mang tính khách quan cao, em xin trích dẫn nguyên bản:

Huệ Viễn
Bách khoa toàn thư mở Wikipedia

Huệ Viễn (zh. 慧遠), 334~416, là một Cao tăng Trung Quốc đời nhà Tấn (zh. 晋). Sư họ Cổ (zh. 賈) nguyên quán xứ Lâu Phiền (zh. 樓煩) ở Nhạn Môn (zh. 雁門) thuộc tỉnh Sơn Tây.

Cơ duyên và hành trạng

Niên hiệu Hàm Hòa thứ 9, Sư lên mười ba tuổi, được song thân cho du học ở miền Hứa Lạc. Không bao lâu, Sư đã thông biện từ Nho giáo đến các học thuyết Lão, Trang cùng bách gia chư tử.

Năm 21 tuổi, cảm thấy các sở đắc của mình không thể giải quyết được vấn đề sống chết luân hồi, sư cùng ẩn sĩ Phạm Tuyên Tử định du phương tìm đạo. Nhưng lúc ấy vì có loạn Thạch Hồ, đường giao thông bị trở ngại nên ý nguyện không thành.

Thời gian sau, có Đạo An Pháp sư trú tại chùa Nghiệp Trung ở núi Thái Hàng thuộc dãy Hằng Sơn, giảng dạy kinh điển cảm hóa dược nhiều hạng người từ đạo tục dến vua quan, sĩ thứ. Sư nghe danh tìm đến xin quy y, nương theo tu học.

Sau khi nghe Pháp sư giảng kinh Bát Nhã, Sư suốt thông tỏ ngộ than rằng: "Phật pháp quả thật cao diệu bao la, xét lại học thuyết của Khổng Mạnh, Lão, Trang, khác nào như tro tàn, cặn bã!". Từ đó, Sư chuyên tâm hôm sớm đọc tụng, suy nghĩ, tu tập. Đạo An thấy biết khen ngợi: "Về sau Phật pháp lưu thông ở Đông Độ, âu là do Huệ Viễn này chăng?"

Tương truyền vào thời niên hiệu Thái Nguyên thứ 6, Sư du hóa tới Tầm Dương, thuộc tỉnh Giang Tây. Thấy chỗ đó thiếu nước do nắng hạn, các dòng suối đều cạn khô, Sư phát tâm từ bi đến khe núi tụng kinh Hải Long Vương; cầm tích trượng dộng xuống đất khấn nguyện. Bỗng có con Bạch Long từ dưới đất bay vọt lên hư không. Giây phút mưa to xối xả, mực nước các nơi đều trở lại bình thường, tại đó xuất hiện dòng suối mát mẻ trong xanh, quanh co tuôn chảy. Vì hiện tượng này, Sư lấy hiệu tinh xá là Long Tuyền. Lúc ấy Pháp Sư Huệ Vĩnh, một bạn đồng môn, trước đã trụ chùa Tây Lâm bên phía tây Lô Sơn, muốn mời Sư về cùng ở. Nhưng pháp duyên của Huệ Viễn đại sư thạnh, học giả nương về Sư càng ngày càng đông, cạnh Tây Lâm đất hẹp, không thể lập đạo tràng dung chúng. Quan Thái sử Hoàn Y thấy thế, phát tâm cất chùa cho Sư bên phía Đông Lô Sơn. Do uy đức của Đại sư, khi sắp khởi công kiến tạo, vào một đêm nọ bỗng có cơn mưa giông to lớn, sấm sét vang trời. Sáng ra, đại chúng thấy vật liệu xây cất, như các thứ gỗ to quí và cát đá chất thành đống. Bởi nhờ sức thần linh vận chuyển giúp công như thế nên ngôi chùa ấy có tên Đông Lâm Thần Vận tự.

Các bậc Cao tăng, những hành danh sĩ, đến xin dự chúng tu tập theo Huệ Viễn, mỗi ngày thêm nhiều. Trong đó có cả những vị lỗi lạc tài hoa.

Khu vực Lô Sơn có rất nhiều rắn độc, từ trước đã làm nguy hại đến tánh mạng dân cư ở vùng ấy. Nhưng từ khi có chùa Đông Lâm, các loài rắn dữ đều trở nên hiền lành, ngày lẫn đêm thường vây quanh Đại Sư để nghe giảng kinh. Bởi trường hợp này, Đại Sư được người đương thời tôn hiệu là Bích Xà Thánh Giả.

Thỉnh thoảng lại có những bậc danh tài bá lâm tìm đến vấn nạn Sư. Trong ấy, đại để như Pháp Sư Huệ Nghĩa cho đến quan Thái Úy Hoàn Huyền. Nhưng khi tiếp kiến gương mặt rộng rãi uy nghiêm, phong thái trầm tĩnh tự tại của Đại Sư, các vị ấy bỗng nhiên mất tự chủ, xuất hạn đầm đìa, rồi rút lui không dám tranh biện. Ra ngoài họ đều kinh ngạc than thở: "Huệ Viễn đại sư có uy lực nhiếp chúng rất lạ lùng, thật đáng nể phục!".

Niên hiệu Long An thứ ba và đầu năm Nguyên Hưng đời Đông Tấn, quan Phụ Chính Hoàn Huyền lần lượt gởi cho Sư hai văn kiện bãi đạo và thanh lọc hàng ngũ xuất gia. Nội dung của văn kiện gồm nhiều lý lẽ đề cập đến việc không lợi ích cho quốc gia và sự hoang đường thiếu thiết thật của Phật giáo. Thời gian ấy, Tăng chúng trong toàn quốc bị đạo luật này chi phối, nhiều vị phải hoàn tục. Đại Sư đều tuần tự phúc đáp bằng lời lẽ vững mạnh thích đáng, khiến cho đạo luật đó không thể ứng dụng được tại tỉnh Giang Tây.

Trong niên hiệu Nghĩa Hy, An Đế từ Giang Lăng xa giá đến Giang Tây, Trấn Nam tướng quân Hà Vô Kỵ yêu cầu Sư đích thân nghinh tiếp đức vua. Đại Sư lấy cớ đau yếu từ khước không bái yết. Đến năm Nguyên Hưng thứ hai, Hoàn Huyền lại gởi văn thư cho Sư, với nhiều lý luận bắt buộc hàng Sa-môn phải lễ bái quốc vương. Đại Sư soạn văn thư phúc đáp và quyển Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận gồm năm thiên để hồi âm. Triều đình đều nể trọng và phải chấp nhận quan điểm của Sư.

Sư là người có công biến tỉnh Giang Tây thành trung tâm Phật giáo tại miền Nam.

Ở Đông Lâm, nhân ngày khánh thành tương Tây Phương Tam Thánh, sư đã đề tựa cho bài văn phát nguyện được khác vào bia đá như sau:

"Tam muội là thế nào? Chính là nhớ chuyện, tưởng lặng vậy. Nhớ chuyện thì chí một tâm đồng. Tưởng lặng thì khí thanh thần sáng. Khí thanh thì trí soi ngộ đến lý nhiệm mầu. Thần sáng thì không chỗ u vi nào chẳng thấu. Hai điểm này tự nhiên thầm hợp nương về mà phát sanh ra diệu dụng.

Lại, các môn Tam Muội, danh mục rất nhiều, công cao dễ tu, Niệm Phật là thắng. Tại sao thế? Vì cùng nơi huyền tịch mới hiểu Như Lai, thể hợp với thần, mười phương ứng hiện. Thế nên, khi vào tam muội, lặng lẽ vong tri, trí sáng chiếu cảnh duyên, gương lòng bày muôn tượng. Chỗ mát ta không đến được, mà vẫn thấy vẫn nghe. Nơi linh trí lặng sáng thanh, nên hằng thông hằng suốt. Nếu chẳng phải bậc căn cơ linh mẫn, thì làm sao vào được cảnh diệu huyền ư?

Hôm nay, cùng chư hiền tu tập, đồng nương kết pháp duyên. Rửa lòng cửa Phật, những e còn kém duyên sen. Chuyên ý sớm hôm, cảm nỗi tháng ngày chẳng lại. Chí nguyện ba thừa thông suốt, bước đạo tiến cao. Lòng mong dìu dắt người sau, lối tranh tẩy sạch.

Xin xem thiên bài mà thấu ý, đừng theo văn vịnh để vui tâm".

Khi thấy kinh tạng còn thiếu, nên sư sai đệ tử là Pháp Tịnh, Pháp Lĩnh cùng nhiều vị khác vượt ngọn Thông Lãnh sang Tây Thiên, tìm thỉnh các thứ kinh Phạn. Cộng việc mang lại nhiều kết quả mong muốn. Sau đó, Huệ Viễn lại cho người đến Trường An thỉnh Tôn giả Phật-đà-bạt-đà-la (sa. buddhabhadra), họp cùng những vị khác đến Lô Sơn để phiên dịch các kinh điển ấy. Thời ấy, những kinh luật lưu hành từ Lô Sơn có gần đến trăm thứ.

Tuy xiển dương Tịnh độ tông, Đại sư vẫn lưu tâm đến các pháp mnôn khác, viết nhiều bài tựa về kinh luận, và hoàn thành mấy tác phẩm như sau:

1. Đại Trí Độ Luận Yếu Lược (zh. 大智度論要略) (20 quyển).
2. Pháp Tính luận. (zh. 法性論)
3. Sa Môn Bất Kính Vương Giả Luận (zh. 沙門不敬王者論).
4. Đại Thừa Đại Nghĩa Chương (zh. 大乘大義章) (3 quyển).
5. Thích Tam Báo luận (zh. 釋三報論)
6. Minh Báo Ứng luận (zh. 明報應論)
7. Sa Môn Đản Phục luận (zh. 沙門袒服論)
8. Biện Tâm Thức luận (zh. 辯心識論)
9. Phật Ảnh tán (zh. 佛影讚)
10. Du Lô Sơn thi (zh. 遊盧山詩)
11. Lô Sơn Lược ký (zh. 盧山略記)
12. Du Sơn ký (zh. 遊山記)

Ngoài ra còn nhiều văn thư biện luận về Phật pháp giữa Đại Sư với Sư Cưu Ma La Thập, cùng các ông Lưu Di Dân, Đới An và những hàng tấn thân. Trong bộ Pháp Tính luận, Đại Sư đề xuất lý Niết-bàn thường trú. Khi bộ luận này truyền đến Quan Trung, Pháp sư Cưu Ma La Thập xem, khen rằng: "Lành thay! Huệ Viễn Đại sư cư ngụ vùng biên phương, chưa đọc kinh Đại Niết Bàn mà lời luận lại thầm hợp với chân lý. Ấy chẳng phải là điều kỳ diệu hay sao?".

Bạch Liên Xã do Đại Sư thành lập, quy tụ hơn ba ngàn người, trong đây có 123 vị được tôn là Hiền. Trong 123 vị Hiền này, lại có 18 bậc thượng thủ gọi là Đông Lâm Thập Bát Đại Hiền, gồm các Sư như sau:

1. Huệ Viễn Đại Sư.
2. Huệ Vĩnh Pháp Sư.
3. Huệ Trì Pháp Sư.
4. Đạo Sinh Pháp Sư.
5. Phật-đà-da-xá (sa. buddhayaśas) Tôn Giả.
6. Phật-đà-bạt-đà-la (sa. buddhabhadra) Tôn Giả.
7. Huệ Duệ Pháp Sư.
8. Đàm Thuận Pháp Sư.
9. Đạo Kính Pháp Sư.
10. Đàm Hằng Pháp Sư.
11. Đạo Bính Pháp Sư.
12. Đàm Tiên Pháp Sư.
13. Danh sĩ Lưu Di Dân.
14. Danh sĩ Lôi Thứ Tôn.
15. Danh sĩ Tôn Bính.
16. Danh sĩ Vương Dã.
17. Danh sĩ Vương Thuyên.
18. Danh sĩ Châu Tục Chi.

Ở Lô Sơn hơn ba mươi năm, không bước ra khỏi núi, sư khước từ mọi sự liên lạc không cần thiết với đời, nguyện giải quyết vấn đề sanh tử ngay trong kiếp hiện tại. Khách đến viếng, lúc ra về, thường sư chỉ tiễn chân tới cầu suối Hổ Khê trước chùa rồi trở vào. Có một lần, hai danh nhân là nho sĩ Đào Uyên Minh và đạo gia Lục Tu Tĩnh tìm đến yết kiến. Vì cơ luận khế hợp, khi đưa khách ra về, bất giác Đại Sư bước ra khỏi cầu suối hồi nào không hay. Vừa lúc ấy, ánh tịch dương chợt rọi đến, in bóng người bên vách núi. Cả ba như bừng tỉnh, đứng lại nhìn nhau cả cười, rồi chia tay tạm biệt. Người sau dựng Tam tiếu Đình tại nơi đây để lưu niệm. Trong Tây phương bách vịnh, Nhất Nguyên đại sư có biên ký điều trên như sau:

Tây phương cổ giáo Thế Tôn tiên
Đông Độ khai tông hiệu Bạch Liên
Thập bát đại hiền vi thượng thủ
Hổ Khê tam tiếu chí kim truyền.

Tạm dịch:

Tây phương Phật dạy trước tiên
Truyền sang Đông Độ, Bạch Liên mở đàng
Mười tám hiền, học hạnh toàn
Hổ Khê dường hãy còn vang tiếng cười ...

Ở Đông Lâm, hôm sớm Đại sư hằng lặng lòng quán tưởng, chuyên chí về Tịnh Độ, đã ba phen thấy thánh tướng mà trầm hậu không nói ra.

Năm Nghĩa Hy thứ mười hai, đêm 30 tháng 7, Sư ngồi tịnh nơi Bát Nhã Đài. Lúc vừa mở mắt xuất định, bỗng thấy Phật A Di Đà thân sắc vàng đầy khắp hư không. Trong ánh viên quang hiện vô số hóa Phật, mỗi vị đều có Quan Âm, Thế Chí hầu hai bên tả hữu. Lại thấy nước chảy chia thành mười bốn ngọn quanh lộn lên xuống, phóng ra những tia sáng đẹp, diễn nói các pháp: Khổ, Không, Vô Thường, Vô Ngã. Đức Phật bảo Sư rằng: "Ta dùng sức bản nguyện đến đây an ủi ngươi. Sau bảy ngày, ngươi sẽ được sanh về Cực Lạc". Đại sư lại thấy các bạn đồng tu ở Liên Xã đã viên tịch trước, như các ông: Phật-đà-da-xá, Huệ Trì, Huệ Vĩnh, Lưu Di Dân... đều đứng phía sau Phật. Các vị ấy bước đến trước, chắp tay chào và nói: "Ngài phát tâm sớm hơn chúng tôi nay sao lại về muộn như thế?".

Hôm sau, Sư cảm bịnh nhẹ, gọi đệ tử là Pháp Tịnh, Huệ Bảo đến thuật lại và nói: "Ta ở Lô Sơn này, trong mười một năm đầu, đã ba lần thấy thánh tướng cùng các kỳ tích. Nay lại có điềm như thế, tất duyên sanh Tịnh Độ đã đến thời kỳ!" Rồi dặn bảo các việc sau, soạn quy chế để răn nhắc đại chúng cùng nhau sách tiến tu tập.

Trong thời gian Sư lâm bịnh, chư Tăng khuyên Sư phương tiện dùng thuốc rượu để điều trị. Sư khước từ bảo: “Thân người như huyễn, nguyện giữ giới luật hoàn toàn thanh tịnh”. Các Đại đức lại thỉnh Sư dùng nước cơm, Đại Sư nói không thể được vì đã quá ngọ. Chư Trưởng lão yêu cầu Sư tạm dùng mật. Đại Sư bảo hãy dở Luật tìm xem có đề cập đến điều này hay không? Các Luật Sư tra cứu chưa xong, Sư đã viên tịch. Lúc ấy nhằm ngày mùng 6 tháng 8 năm Bính Thìn, niên hiệu Nghĩa Hy thứ mười hai, thọ 83 tuổi.

Quan Thái Thú Tầm Dương là Nguyễn Bảo cùng đại chúng làm lễ an táng và xây tháp tại phía Tây Lô Sơn. Vua An Đế nhà Tấn hay tin rất thương tiếc, sắc phong cho Sư thụy hiệu: "Lô Sơn Tôn Giả, Hồng Lô Đại Khanh, Bạch Liên Xã Chủ". Các vua đời sau đều có phong tặng để cảm niệm công đức hộ pháp an dân của Sư.


Kính thưa quý cử tọa Bé Ba!

Ðây là một trong những tài liệu nói về nguồn gốc, tiểu sử của vị Phật gọi là A Di Ðà. Nếu căn cứ vào tài liệu này thì chúng ta thấy rằng, chính ngài Huệ Viễn hay còn gọi là Tuệ Viễn là người đã giới thiệu vị Phật A Di Ðà đầu tiên cho nhân loại. Cũng như có thể có nhiều quý cử tọa không ngờ là Kinh Tỳ Kheo Nguyệt Quang đã giới thiệu nhân vật là Phật tương lai Di Lạc, Kinh Nhân Vương là người đã giới thiệu khái niệm "Thời Mạt Pháp" mà có nhiều quý cử tọa đã sử dụng từ ngữ này nhiều lần. Chắc quý cử tọa không ngờ rằng, theo những khảo cứu gần đây, thì các bộ Kinh nói trên đều được sắp vào loại tài liệu Ngụy Tạo của Kinh Điển Phật Giáo.

- Cử tọa phái Đông Tà: Tam Tiểu Thư à! Cho tui ý kiến chút đi. Tui nghe cô cứ lập đi lập lại cõi Tịnh Độ là không có thật mà bực mình quá. Thầy của tui xác định là có Tịnh Độ thì có nghĩa là phải có. Tịnh Độ có thật, Cổ Phật Di Đà có thật, Độ Tử là Chánh Pháp. Tui và Thầy tui có lòng từ bi rộng lớn nên không thể để cho cô cứ bài xích Chánh Pháp như thế. Mai kia mốt nọ ông Tổng Quản minh triết của cô "ra đi về nơi xứ xa" là xong cái thân ổng. Ổng nói có tịnh độ hay không, thì có quan trọng gì cho ổng đâu. Còn những người ở lại như cô thì sao? Cô đâu có trình độ bằng ổng. Lúc đó cô sẽ hút gió đìu hiu "đêm đông cô đơn buồn cho kiếp không ... chồng" đó. Cô hiểu ra chưa? Tui lên tiếng là do muốn "nói vì người ở lại" đó!

- Tam Tiểu Thư: Dạ em xin cảm ơn lời nhắc nhở của ngài Đông Tà. Em thật lòng cũng rất nể trình độ tu tập của ngài. Hay là hôm nào rảnh ngài coi bói giúp Tam Tiểu Thư xem tiền kiếp em đã làm những điều tồi tệ gì, mà kiếp này vừa xinh đẹp vừa tài năng mà không ai thèm lấy. Em xin cảm ơn trước.

Còn riêng về chuyện Tịnh Độ thì em thấy nếu chúng ta tin tưởng vào một nhân vật ảo, cụ thể là không có thật, thì chuyện này sẽ đưa chúng ta đi về đâu? Tại sao chúng ta lại không tỉnh táo và tự biến mình thành những con vật thí nghiệm đáng thương của một thứ tín ngưỡng không tưởng (Utopic)? Phải chăng đã đến lúc tiếng nói của chân lý, tiếng nói của sự thật phải có chỗ đứng đích thực của mình.

Trân trọng kính chào quý cử tọa Bé Ba. Em rất mong được quý cử tọa tiếp tục đóng góp trong tương lai, chắc chắn có sai sót mong quý cử tọa chỉ bảo, em vô cùng cám ơn.



Lá thư từ độc giả 4: KHUI HỤI


 
          bói tiền kiếp ...
                              . . .    T h á n h  T ă n g  D a n h  S ắ c  . . .


 Kính thưa quý độc giả gần xa của CTR blog,

Sáng nay CTR nhận được 1 lá thư từ quí độc giả nickname Ruoinhua. Tôn trọng tất cả những ý kiến chia sẻ, CTR xin đăng tải toàn bộ bài viết của anh Ruoinhua. Kính mời quí vị cùng theo dõi.


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

Kính chào HHDL,

Qua những bài viết của HHDL về anh S. và nhóm CTR, tui xin phép đóng góp ý kiến của mình như sau:

Việc HHDL coi bói về tiền kiếp giữa bạn và anh S là một câu chuyện đau thương và bất hạnh cho HHDL. Câu hỏi đầu tiên được đặt ra là tính chính xác của việc coi kiếp này. HHDL căn cứ vào đâu, có bằng chứng gì để nói chuyện giết người chiếm đoạt tài sản này là đúng? Đứng trên góc độ pháp lý, nếu bạn không chứng minh được điều này, thì bạn đang hủy hoại và đánh chết thanh danh của người khác. Còn nếu bạn muốn kể chuyện cổ tích, thì bạn nên xác định đây là câu chuyện hư cấu tưởng tượng và thay đổi tên tuổi. Bạn nên biết rằng Hoa Sen Trên Đá là một dạng truyền thông qua internet, có tính cách international, và có nhiều độc giả là những người bình thường quan tâm; chứ không phải là cõi trên chỉ dành riêng cho Thánh Tăng như HHDL.

HHDL nêu câu chuyện tiền kiếp về anh S và nhóm CTR ra nhằm mục đích gì? Bạn muốn khoe trình độ thần thông của mình? Bạn muốn so sánh bạn từ bi hơn anh S? Bạn muốn trở nên nổi tiếng nhờ việc bạn chứng minh cho độc giả gần xa rằng Độc Giác Phật còn thua bạn thăm thẳm về trình độ chứng đắc? Cho dù mục đích của bạn là gì, bạn vẫn không có quyền đem tên tuổi thật của một cá nhân ra rồi hạ uy tín của họ xuống bằng cách gán cho họ những hành động vô đạo đức để đánh bóng hào quang của mình. Tệ hại hơn nữa đó chỉ là sản phẩm tưởng tượng của bạn nhưng lại làm ảnh hưởng đến thanh danh của những người có thực (Âm mưu này ghê thiệt!)

Có nhiều ý kiến chân tình của những huynh đệ trong HSTĐ đã góp ý và cảnh báo bạn chuyện này, nhưng thái độ của bạn cho đến nay vẫn tự cho mình là tiếng nói của chân lý.

Đây là những lời nói chân tình của Ruoinhua theo tiêu chí ĂN NGAY NÓI THẬT của HSTĐ. Mong rằng bạn HHDL dành chút thời gian để đọc cho kỹ, nghĩ cho kỹ và hành động cẩn trọng.

Thân ái

RN

Ps: Để rộng đường dư luận, RN cũng gởi đăng bài này trên CTR blog theo tinh thần ngang cơ của HHDL. 





Cuộc họp báo (10) Tiêu Cục Xuyên Vân Kiếm Pháp



- Cử tọa TUDI: @ Cuộc họp báo 8
 

" Người ấn có thích tịnh độ không? bác nào chỉ cho em biết với nhở? "

- Tam Tiểu Thư:
Em xin kính chào quý Bác Tudi. Em xin chân thành cảm ơn quý Bác đã có nhã ý nêu ra ý kiến để tạo cho cuộc họp báo hôm nay thêm phần sống động, vui vẻ.
 

Như quý cử tọa đã biết, căn cứ vào lịch sử và địa lý, thì Phật Giáo tất nhiên là đặc sản của Ấn độ. Do vậy đạo Phật phải được truyền từ Ấn Độ vào Trung Quốc, chứ không phải ngược lại.

Theo nhiều ý kiến của nhiều tác giả, chuyên gia, thì tất cả các hệ phái của Phật Giáo đều bắt nguồn từ việc tu Chứng của Thiền Định; kể cả Đại Thừa phát triển tại Ấn Độ sau khi Sakya Muni đã nhập Niết Bàn. Các hệ phái gọi là Đại Thừa này cũng dựa trên cơ sở Thực Chứng Thiền Định mà có. Họ cho là Thiền Định là một công cụ dẫn kênh của Sakya Muni. Nhờ vào trí huệ của Thiền Định, nhờ vào Định Lực của Thiền Định nên đã tìm được những tài liệu của Sakya Muni ẩn dấu tại đất nước thần Rắn.

Tất nhiên không thể khẳng định những thông tin nêu sau là 100% chính xác. Người ta cho là Phật Giáo truyền vào Trung Quốc vào năm Kiến Hòa thứ 2 (CN 148). An Thế Cao là người đã đưa Phật giáo vào Trung Quốc, vào thời tuyên đế nhà Đông Hán. Điều đáng quan tâm là, ông dịch nhiều tài liệu về Thiền Định Nguyên Thủy ra chữ Hán, người ta biết đến 5 bộ tài liệu sau đây:

- Đại An Ban Thủ Ý Kinh.
- Thiền Hành Pháp Tưởng Kinh.
- Thiền Hành Tam Thập Thất Phẩm Kinh.
- Âm Trì Nhập Kinh.
- Đạo Địa Kinh.

Có tác giả cho là bộ Kinh được dịch ra chữ Hán đầu tiên là “An Ban Thủ Ý Kinh”.

Trong công cuộc du nhập Phật giáo từ Ấn Độ vào Trung Quốc, người ta phải kể tới ngài Cưu Ma La Thập, đó là sự tổng hợp của các phái. Nổi danh nhất là ngài Bồ Đề Lạt Ma, được coi như người khai sinh ra Thiền Tông Trung Quốc.

Thưa quý cửa tọa TuDi, phần trình bày nói trên, có lẽ đã minh họa phần nào được bức tranh lịch sử mà Phật Giáo Ấn Độ đã du nhập vào Trung Quốc.

Vấn đề của quý Bác TuDi đặt ra em vừa trình bày phần thứ nhất, là nói về địa lý và lịch sử của tiến trình Phật Giáo tại Trung Quốc đã phát triển như thế nào.

Tiếp theo em xin khái lược về sự phát triển của Liên Tông còn gọi là Tịnh Độ Tông, do ngài Tuệ Viễn là người sáng lập, kiến trúc sư trưởng (vì còn rất nhiều người phụ tá) của trường phái Tịnh Độ 100% của Trung Quốc.

Xét về mặt địa lý và văn hóa, thì chỉ có những quốc gia nào, sử dụng loại chữ tượng hình của Trung Quốc, là có cơ hội để tiếp cận với Tịnh Độ Tông của Trung Quốc. Vào thời gian này, có thể coi chữ viết của Trung Quốc là một dạng internet lúc bấy giờ, vì nó là công cụ để giao tiếp với những đất nước kế cận, nhưng thổ ngữ lại khác nhau. Ai cũng biết người ta dùng chữ Hán để nói chuyên với nhau, gọi là Bút đàm. Do đó, những quốc gia sử dụng chữ Hán như Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản; thông qua công cụ là chữ Hán, Tịnh Độ Tông đã phát triển tại những quốc gia này từ thế kỷ thứ 6 đến thế kỷ thứ 8 sau công nguyên. Những quốc gia cũng có biên giới chung với Trung Quốc, nhưng sử dụng loại chữ khác thì Tịnh Độ không phát triển được.

Ít nhất cho đến ngày hôm nay, chúng ta không được biết đến có tác phẩm nổi danh Phật Giáo nào mà được dịch từ tiếng Trung Hoa ra tiếng Pali hoặc tiếng Sanskrit.

Xin cảm ơn quý vị.



Cuộc họp báo (9) Tiêu Cục Xuyên Vân Kiếm Pháp


         
          t h e o  d ấ u Đại Thừa
                                 s ự  t í c h  A d i d a  P h ậ t  &  c o n  t r a i   .  .  .


Trời còn sáng tinh mơ, những cơn gió se lạnh đầy hơi sương thổi qua khu vực họp báo ở Động Đình Hồ của Tiêu Cục XVKP. Dường như số lượng cử tọa quan tâm cuộc họp báo lần này đông hơn những ngày qua. Tam Tiểu Thư bước vào phòng, mỉm cười và khai mạc buổi họp báo 9.

- Cử tọa TÂY ĐỘC (giơ tay xin phát biểu trước): @ Cuộc họp báo 8

"Chào TTT và CTR,
Tây độc tui theo tịnh độ đã lâu, niệm phật gần dứt nọc, cảm thấy rất an ổn. Nay đọc những gì CTR viết thấy wải quá, nọc nó muốn chạy lại rần rần trong cơ thể, chán thật. Quí vị có chắc là cỏi tịnh độ không có thật không vậy ? Bằng chứng gì ? Kiễu này như tạt nước sôi vô mặt thiên hạ, sao quý vị thiếu tình thương vậy?"

- Tam Tiểu Thư: Em xin kính chào cử tọa Tây Ðộc. Em được biết đến hỗn danh của ngài từ lâu, từ thuở Luận Kiếm Hoa Sơn. Em vô cùng ngưỡng mộ tài nghệ của quý cử tọa. Những điều quý cử tọa nêu ra, em cho có lẽ đó là nỗi niềm của tất cả mọi người đang tu Tịnh Độ.

Ðể đóng góp cho ý kiến của quý cử tọa, em xin phép được chia thành hai phần. Trong phần đóng góp lần này, để mang tính chất khách quan cao, và cũng để rộng đường công luận em xin nêu rõ các tài liệu tham khảo.

Phần thứ nhất nói về nguồn gốc của Ðại Thừa tại Ấn Ðộ sau khi Phật nhập Niết Bàn. Phần này em tham khảo bài viết "Sự Hình Thành Ðại Thừa" của tác giả J.R. O’Neil.

Theo tác giả này phong trào Ðại Thừa đã hình thành trong khoảng 250 năm, từ năm 150 trước công nguyên đến năm 100 sau công nguyên. Về mặt địa lý dường như phong trào phát triển khắp nơi tại Ấn Ðộ. Phong trào này có 3 tư tưởng cơ bản:

1. Quan điểm mới về Bồ Tát Ðạo.
2. Họ đưa ra một vũ trụ quan mới.
3. Có những quan niệm mới về Vi Diệu Pháp, dựa trên cơ sở, quán tính Không của vạn vật.

Kinh điển mới của Đại thừa (Mahayana) hoàn toàn khác hẳn với kinh điển cũ.
Ðại bộ phận chấp nhận đó là lời của Phật nói:

1. Họ tin rằng Ðức Phật vẫn hiện hữu, có thể cảm nhận qua các trạng thái Thiền Định.
2. Chúng được xem như sản phẩm của Tuệ Giác.
3. Nhiều người Ðại Thừa tin rằng các kinh điển đó là lời giải của Ðức Phật, nhưng nó được giấu đi ở một đất nước Rắn thần (Naga, Long Vương), nhưng người ta có thể cảm nhận được qua năng lực của tham Thiền.

Nói chung, người ta cho rằng những kinh điển này xuất phát từ kinh nghiệm tham Thiền, cảm thông được sự hiện hữu của Sakya Muni.

Ở thời kỳ này, nhân vật mới được hình thành là Bồ Tát. Bồ Tát được mô tả là có trí tuệ cao hơn các A La Hán. Vì vậy phong trào này còn được gọi là Bồ Tát Thừa. Đó là em xin tóm tắt sơ lược về sự hình thành và phát triển khái niệm Ðại Thừa tại Ấn Ðộ.

Ðại Thừa tại Trung Quốc thì phải nói là ít liên quan gì tới Ðại Thừa tại Ấn Ðộ. Với tác giả Nguyễn Tuệ Chân trong tác phẩm Phương Pháp Ngồi Thiền, ông có phát biểu như sau: "Về mặt hình thái, phương pháp và hệ thống lý luận nó đều khác hẳn với Phật Giáo Ấn Ðộ". Ông giải thích: "Ðặc điểm ấy đã bắt rễ trong thổ nhưỡng văn hóa và kinh tế, chính trị riêng biệt của Trung Quốc, có nguồn gốc từ ý thức tâm lý dân tộc, phương pháp tư tưởng và phong tục tập quán của người Trung Quốc".

Trước khi trình bày tiếp, em xin mời quý cử tọa vui lòng xem một vài tài liệu nguyên bản của một số trang web, em tránh việc trích dịch vì sợ mang tiếng chủ quan.


SỰ TÍCH PHẬT A-DI-ĐÀ VÀ BẢY VỊ BỒ TÁT
Phật học tạp chí Từ Bi Âm (200-204)
(Thanh Tâm sưu tầm và đánh máy)

SỰ TÍCH ĐỨC PHẬT A DI ĐÀ

Đức phật A Di Đà là một ngôi giáo chủ trên cõi Lạc Bang, oai đức không cùng, thệ nguyện rất lớn, mở môn phương tiện, độ kẻ chúng sanh ra khỏi Ta bà đem về Tịnh độ.

Trong Kinh Bi Hoa nói rằng: “Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một đại kiếp gọi là Thiện trì”. Khi ấy tại cõi Tản đề lam thế giới có vua Chuyển Luân Thánh Vương, tên Vô Tránh Niệm, thống lãnh cả bốn xứ thiên hạ: một là Đông Thắng Thần Châu, hai là Nam Thiện Bộ Châu, ba là Tây Ngưu Hóa Châu, và bốn là Bắc Cu Lô Châu, tiếng nhơn hiền đồn dậy bốn phương, đức từ thiện đượm nhuần khắp xứ, nên hết thảy nhân dân ai nấy cũng sẳn lòng ái kính.

Vua ấy có nhiều người con và có một vị đại thần, tên là Bảo Hải, con dòng Phạm Chí, rất tinh thông về nghề xem thiên văn. Ông Bảo Hải lại có một người con trai tướng tốt lạ thường, từ dưới chân lên đến trên đầu đều có ba mươi hai dấu tốt. Khi con ông mới sanh ra, thì có các hàng khách tôn quý đem nhiều đồ lễ vật đến dưng cho, nhơn vậy mà đặt tên là Bảo Tạng.

Lúc khôn lớn, thì Bảo Tạng xem biết việc đời là thống khổ thân mạng lại vô thường, tự nhiên sanh lòng chán ngán, bỏ cuộc vinh hoa, liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu mà đã thành Phật, hiệu là Bảo Tạng Như Lai, đủ các đạo Pháp nhiệm mầu, thần thông rộng lớn. Khi thành Phật rồi, thì Ngài dạo khắp các nơi mà hóa độ chúng sanh, có nhiều hàng đệ tử đã chứng đặng quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát, nên nhơn dân ai nấy cũng sẳn lòng hoan nghinh.

Có một bữa kia, vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng cùng Đại chúng đến giảng Đạo tại vườn Diêm Phù, gần bên thành, thì tự nghĩ rằng: “Nay Ta muốn đến chỗ Phật, đặng xem coi giảng Đạo lý gì mà thiên hạ tín ngưỡng đông như thế!”

Nghĩ như vậy rồi, vua cùng các vị vương tử, đại thần và quyến thuộc bèn đến vườn Diêm phù lễ Phật vừa xong, liền đi chung quanh ba vòng, rồi ngồi bên Ngài mà nghe Pháp.

Vua Vô Tránh Niệm xem thấy Đức Bảo Tạng Như Lai khoanh chân ngồi trên bảo tọa có hình con sư tử, rất bực trang nghiêm, đủ tướng tốt đẹp, chung quanh thân Ngài có ánh sáng nhiều sắc chói lòa.

Còn trong Pháp hội thì thấy: nào là những người đã xuất gia làm đệ tử của Phật cạo tóc đắp y, nào là những hàng vương tử đại thần mặc đồ anh lạc, nào là cung nga mỹ nữ dung mạo tốt xinh, nào là sĩ, nông, công, thương, áo xiêm chỉnh đốn, kẻ thì chấp tay ngồi im lặng, người thì quỳ gối thưa hỏi, xem bộ ai nấy cũng chăm ngó Phật mà nghe Pháp cả.

Vua Vô Tránh Niệm quan sát khắp đủ mọi lẽ, bèn ngắm nhìn thân mình, rồi trở lại ngó Phật, mắt sửng không nháy, lòng thiệt hoan nghênh, cái tâm niệm tín ngưỡng tự nhiên phát lộ, liền đãnh lễ Ngài và đi xung quanh ba vòng, rồi cũng ngồi xuống một bên Ngài mà chăm nghe lời giảng dạy.

Vua nghe đức Bảo Tạng Như Lai diễn đủ các Pháp, thì lòng đã mở thông, căn thân thanh tịnh, rõ đường giải khổ, biết sự làm lành, liền quỳ xuống chấp tay mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nay tôi muốn sắm đủ những đồ ăn uống: áo chăn, mền nệm và thuốc men, đặng dưng cúng cho Ngài và đại chúng luôn trọn ba tháng ở đây mà giảng đạo, xin Ngài từ bi ai nạp”.

Vua Vô Tránh Niệm thấy Phật nhận lời, liền trở về truyền lịnh sắm sửa đủ mọi lễ, cứ đúng buổi mà dưng cúng không hề trễ nãi. Vua lại khuyên bảo các vị vương tử, đại thần, quyến thuộc và nhơn dân rằng: “Các ngươi có biết hay không?

Nay Trẫm đã mở lòng bố thí, kính thỉnh Đức Bảo Tạng Như Lai và đại chúng đến mà cúng dường trọn ba tháng. Những đồ báu trọng ngon đẹp của Trẫm thọ dụng bấy lâu nay đều đem dâng cúng tất cả. Các ngươi cũng thể theo ý Trẫm xả bớt huyễn tài mà cúng Phật Tăng đặng cầu phước báu”

Cả thảy đều vâng lời vua khuyên, hết lòng sắm sửa lễ vật mà dưng cúng Phật.
Có một hôm, quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân Đức Bảo Tạng Như Lai, nằm chiêm bao thấy vua Vô Tránh Niệm làm sự bố thí thì lớn, mà việc cầu phước báu thì nhỏ. Sự ao ước của vua còn thuộc về phước hữu lậu trong cõi nhơn thiên, chưa thoát ra khỏi luân hồi sanh tử.

Vậy nên quan Đại thần chẳng đặng vui lòng, vì ý của ông muốn làm sao cho vua phát tâm cầu quả Bồ đề, tu thành Phật đạo mà cứu vớt mọi loài chúng sanh, chớ không muốn cho vua cầu phước báu nhỏ nhen như hàng tiểu dân vậy.

Quan Đại thần suy nghĩ như vậy, bèn đến chỗ Phật Bảo Tạng Như Lai tỏ điềm chiêm bao ấy, và tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Muôn tâu Đại Vương! Xin suy nghĩ đến việc này. Về sự sanh tử luân hồi phải bỏ thân này mang lốt khác, nên khó đặng thân người. Nay Đại Vương đã cảm lấy phước báu làm đặng vương thân, thiệt là quí báu biết dường nào! Các Đức Phật tùy cơ duyên của chúng sanh cảm triệu mà ứng hiện ra đời, cũng như bông ưu đàm ứng thời mà nở, thiệt là ít có! Nay Đại Vương gặp Phật xuất thế, thì phần hân hạnh biết bao! Dứt trừ lòng dục vọng, làm mọi sự phước duyên, cũng là việc khó mà Đại vương làm đặng như vậy, thiệt là ít ai bì đặng!

Xin Đại Vương thứ lỗi cho ngu thần hỏi lời này: Ngày nay Đại Vương cúng dường Phật Tăng, dùng phước duyên đó mà cầu nguyện những việc chi, xin cho ngu thần rõ.

Nếu Đại Vương muốn cầu sanh về cõi Trời mà làm một vị thiên tử hưởng sự phước thọ hay là muốn cầu sanh về cõi Nhơn gian làm vua Chuyển Luân, thống lãnh bốn châu thiên hạ như ngày nay vậy, thì cũng còn ở trong khổ ải, chớ chưa ra khỏi vòng sanh tử luân hồi.

Thưa Đại Vương! Hai sự phước báu tôi đã trần tấu đó đều là tướng vô định, đều là sự vô thường, thí như cơn gió thổi, dường tợ đám mây tan, có chắc chắn lâu dài chi đâu mà phải cầu nguyện!

Nếu sanh về cõi Trời, khi hưởng sự khoái lạc mà có tạo ác nghiệp, thì cũng phải đọa vào địa ngục, đặng chịu khổ. Còn như sanh về cõi nhơn gian, thì lại chịu mọi sự khổ não phần thì oán cừu gặp gỡ, phần thì ân ái chia lìa cái khổ trạng ấy không thể kể xiết.

Vì Đại Vương nhờ nhân duyên tu phước đời trước, nên mới hưởng đặng sự tôn vinh như vầy. Nếu nay Đại vương giữ gìn giới luật, thì sẽ đặng phước báu lớn hơn nữa: còn như tu học chánh pháp, thì sẽ thành chưởng trí.

Vậy xin Đại vương nên phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ đừng cầu nguyện những việc phước nhỏ nhen như hạng người thường kia vậy. Vua Vô Tránh Niệm nghe quan Đại thần Bảo Hải khuyến thỉnh như thế, thì tâm lượng tự nhiên mở rộng, liền đáp rằng: “Trẫm chẳng cầu những việc như khanh nói đó đâu! Trẫm muốn trãi khắp trong đường sanh tử, làm sự bố thí, trì giới, hầu nghe những pháp mầu nhiệm, tu hạnh Bồ Tát và cứu vớt chúng sanh, do nhân duyên ấy mà phát tâm Bồ Đề”.

Đại thần Bảo Hải lại nói rằng: “Bồ đề là một đạo rất trong sạch sáng suốt, rất ngay thẳng chính đáng rất trang nghiêm tốt đẹp, rất rộng lớn cao sâu, khắp cả hư không, trùm cả sa giới rất có oai thần mảnh lực.

Vả lại đạo Bồ đề là hạnh bố thí, sẽ đặng giàu sang, là hạnh trì giới, sẽ đặng thanh tịnh, là hạnh nhẫn nhục, sẽ đặng vô ngã, là hạnh tinh tấn, sẽ đặng bất thối, là hạnh thiền định, sẽ đặng vắng lặng, là hạnh Bát nhã, sẽ đặng sáng suốt. Tu được như vậy mới đến chỗ an lạc và mới chứng đặng quả Niết Bàn. Vậy xin Đại vương nên phát tâm mà cầu đạo ấy.

Vua Vô Tránh Niệm đáp rằng: “Này khanh! Đương thời trung kiếp, mỗi người sống lâu chỉ có tám vạn tuổi mà thôi!  Nay Đức Bảo Tạng Như Lai ứng hiện ra đời mà giáo hóa chúng sanh, hoặc có kẻ chứng pháp Tam muội, hoặc có người đặng bực Bồ Tát, hoặc đặng thọ ký làm Phật, hoặc đặng quả báo nơi cõi Nhơn Thiên. Trong hàng chúng sanh có một người nào không trồng căn lành mà Đức Như Lai chẳng nói Pháp đoạn khổ.

Tuy Ngài là phước điền của chúng sanh, song những người không có căn lành thì Ngài không có thể hóa độ cho dứt đặng mọi sự khổ não”.

Nay Trẫm phát Bồ đề tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Đại thừa, chứng pháp môn rất mầu nhiệm, chuyên làm Phật sự mà giáo hóa chúng sanh. Trẫm muốn cầu làm sao cho khi thành Đạo Bồ đề, thì Thế giới đặng trang nghiêm thanh tịnh chúng sanh không còn có một chút khổ gì. Nếu đặng như vậy thì Trẫm sẽ chứng đạo Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Vua Vô Tránh Niệm nói như vậy rồi, bèn đi với quan Đại thần Bảo Hải đến chỗ Đức Bảo Tạng Như Lai, thấy Ngài đương nhập định, lại dùng phép thần thông biến hóa và phóng hào quang sáng suốt, hiện cả mười phương thế giới của Chư Phật ra trước mặt cho chúng hội xem: hoặc có cõi Phật đã Niết Bàn rồi, hoặc có cõi Phật đương Niết Bàn, hoặc có các cõi vị Bồ Tát mới ngồi nơi đạo tràng dưới cây Bồ đề, đương hàng phục chúng ma, hoặc có cõi Phật mới thành đạo và mới nói Pháp, hoặc có cõi Phật thành đạo đã lâu, đương còn nói Pháp, hoặc có thế giới toàn là các bực Bồ tát, hoặc có thế giới toàn là những hàng Thinh Văn và Duyên Giác, hoặc có thế giới không có Phật, Bồ Tát, Thinh Văn và Duyên Giác chi hết, hoặc có thế giới đủ năm món ác trược, hoặc có thế giới đủ các thứ trang nghiêm, hoặc có thế giới hèn dơ nhớp, hoặc có thế giới tốt đẹp lạ thường, hoặc có thế giới mà nhơn dân sống lâu vô cùng, hoặc có thế giới mà nhơn dân thọ mạng ngắn ngủi, hoặc có thế giới thường bị tai nạn thủy hỏa, hoặc có thế giới hằng bị tai nạn gió bão, hoặc có thế giới gần thành tựu, hoặc có thế giới đã thành tựu rồi.

Đại thần Bảo Hải thấy vậy, bèn tâu với vua Vô Tránh Niệm rằng: “Nay Đại vương nhờ sức oai thần của Đức Như Lai   mà đặng thấy các thế giới, vậy Đại vương phát Bồ đề tâm muốn cầu lấy thế giới nào”

Vua chấp tay mà thưa với Đức Bảo Tạng Như Lai rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Chẳng biết các vị Bồ Tát tu hạnh gì mà chiếm đặng cõi Phật tốt đẹp trang nghiêm, tu nghiệp gì mà chiếm đặng thế giới xấu xa ác trược.

Do nghiệp gì mà đặng thọ mạng lâu dài, tạo nghiệp gì mà thọ số ngắn ngủi? Xin Ngài chỉ dạy cho tôi biết mà tu học”.

Đức Bảo Tạng Như Lai nói rằng: “Vì bởi các vị Bồ Tát có sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới thanh tịnh, không  có các điều ác trược, nên sau khi thành đạo được về ở cõi ấy rất trang nghiêm.

Còn các vị Bồ Tát nào do sức thệ nguyện, muốn ở cõi thế giới ngũ trược đủ sự phiền não, nên sau khi thành đạo về ở cõi ấy”.

Vua Vô Tránh Niệm lễ Phật rồi lui trở về trong cung, một mình ngồi im lìm mà suy nghĩ đến sự thệ nguyện của mình, mong cầu cho đặng cõi cực kỳ tốt đẹp, đặng tiếp dẫn chúng sanh.

Suy nghĩ rồi vua bèn trở lại lễ Phật mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Vì tôi muốn chứng đạo Bồ đề, nên đem công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng mà cầu đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm.

Bạch đức Thế Tôn!

1. Nay tôi nguyện trong khi tôi thành Phật, làm sao đặng một thế giới đủ sự vui đẹp, hình dạng nhơn dân trong cõi ấy toàn là sức vàng và không có những đường địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh xen ở chung lộn. Hết thảy chúng sanh nơi cõi ấy chẳng khi nào còn phải thối chuyển mà đọa vào trong ba đường dử đó nửa, và người nào cũng đủ sáu phép thần thông và căn thân tốt đẹp.

2. Tôi nguyện tất cả chúng sanh được về cõi ấy, đều thành đàn ông tươi tốt vô cùng, không còn thọ báo sắc thân đàn bà và cũng chẳng cần có danh hiệu của người đàn bà nữa. Hết thảy chúng sanh khi được về đó, thần thức đầu thai trong bông sen, lúc bông nở ra thì căn thân xinh tốt, thọ mạng lâu dài, không kể xiết đặng.

3. Tôi nguyện cõi ấy đặng trang nghiêm, cảnh vật thiệt xinh đẹp, không có mọi sự nhiễm trược, hằng có hoa tốt hương thơm mùi bay các hướng.

4. Tôi nguyện cho chúng sanh trong cõi ấy, ai nấy cũng đều đặng ba mươi hai tướng tốt, sáu phép thần thông, trong giây phút dạo khắp các cõi Phật trong mười phương, đặng cúng dường và nghe Pháp, rồi trở về cũng chưa trễ buổi ăn.

5. Tôi nguyện nhơn dân trong cõi ấy đều đặng mọi sự thọ dụng tự nhiên, đúng giờ ăn thì có đủ các món ngon vật lạ hiện ra trước mắt, còn muốn bận đồ gì thì có áo xiêm tốt đẹp hiện ra bên mình, không cần phải sắm sửa như trong cõi nhơn gian vậy.

6. Tôi phát nguyện cầu đặng cõi Phật như vậy, đặng từ rày về sau, đời đời kiếp kiếp, thường tu hạnh Bồ tát, làm sự hi hữu mà tạo thành cõi Tịnh Độ, đến thời kỳ chứng đạo thì ngồi dưới cây Bồ đề mà thành quả Chánh Giác, phóng hào quang soi các thế giới cho các Đức Phật đều xem thấy, đặng khen ngợi danh hiệu của tôi.

7. Tôi nguyện khi thành Phật rồi, những loài chúng sanh ở trong thế giới khác, đã có tu tập thiện căn, hể nghe danh hiệu tôi mà muốn sanh về cõi tôi, đến khi lâm chung đặng vãng sanh, chỉ trừ những người phạm tội ngũ nghịch, tội chê bai các Pháp Đại thừa và phá hư Chánh Pháp mà thôi.

8. Tôi nguyện khi tôi thành Phật rồi, mà có chúng sanh ở các thế giới đã phát Bồ đề tâm, tu Bồ tát đạo, muốn sanh về cõi tôi, thì đến khi mạng chung, tôi và đệ tử tôi đều hiện thân đến trước mặt người ấy đặng tiếp dẫn.

9. Tôi nguyện khi tôi nhập diệt, trải vô số kiếp về sau những người nữ nhơn ở trong các thế giới nghe danh hiệu tôi mà chăm lòng vui mến và phát Bồ đề tâm, cho đến lúc thành Phật, cứ cảm báo đặng làm thân đàn ông hoài, chớ không khi nào còn mang lấy thân đàn bà nữa.

Bạch Đức Thế Tôn! Tôi nguyện đặng cõi Phật như vậy, chúng sanh như vậy, mọi sự thanh tịnh trang nghiêm như vậy, thì tôi mới chịu thành Phật.

Đức Bảo Tạng Như Lai nghe vua Vô Tránh Niệm nguyện mấy lời ấy rồi khen rằng: “Hay thay! Hay thay! Đại vương phát nguyện sâu lớn, muốn cõi thanh tịnh. Kìa Đại vương hãy xem qua hướng Tây, cách trăm ngàn muôn ức cõi Phật có một thế giới gọi là Tôn Thiện Vô Cấu, giáo chủ cõi ấy hiệu là Tôn Âm Vương Như Lai, hiện nay đương vì các bực Bồ Tát mà giảng dạy Pháp Đại thừa, giáo hóa các người Thượng căn, chứ không diễn thuyết mấy Pháp quyền tiểu”.

Trong cõi ấy cũng không có chúng sanh căn trí Tiểu thừa và cũng không có một người nữ nhân. Nhưng y báo (y báo là cảnh vật) và chánh báo (chánh báo là căn thân) của Phật Tôn Âm Vương Như Lai thiệt thanh tịnh trang nghiêm, rất xứng hiệp với chỗ cầu nguyện của Đại vương đó! Vì Đại vương có thệ nguyện muôn cõi thanh tịnh, nên nay Ta đổi hiệu Đại vương là Vô Lượng Thanh Tịnh.

Khi Vô Lượng Thanh Tịnh mãn một trung kiếp, thì Đức Phật Tôn Âm Vương Như Lai nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền bá đặng mười trung kiếp. Đến khi diệt rồi, trải qua sáu mươi trung kiếp, thì cõi Tôn thiện vô cấu đổi tên lại là: Di Lâu Quang Minh có Đức Phật, hiệu là Bất Khả Tư Nghị Công Đức Vương Như Lai, ứng hiện ra đời mà hóa đạo chúng sanh. Sau khi Đức Phật ấy nhập Niết Bàn rồi, trải vô số hằng sa kiếp và vô lượng Phật diệt độ, thì cõi Di lâu Quang Minh đổi tên lại là: An lạc, đến thời kỳ Vô Lượng Thanh Tịnh chứng quả về cõi đó mà thành Phật thì hiệu là: A Di Đà Như Lai (dịch là Vô Lượng Thọ), sống lâu vô cùng, tiếp dẫn vô lượng chúng sanh trong các thế giới về đó, rồi giáo hóa cho thành Phật đạo tất cả.

Vua Vô Tránh Niệm nghe Phật Bảo Tạng Như Lai thọ ký như vậy liền thưa rằng: “Bạch Đức thế Tôn! Nếu lòng thệ nguyện của tôi quả đặng y như lời thọ ký của Ngài, thì tôi kỉnh lễ xin nhờ Ngài dùng phép thần thông làm cho các Đức Phật ở trong hằng sa thế giới cũng thọ ký cho tôi như Ngài nữa”.

Vua Vô Tránh Niệm thưa rồi, đương cúi đầu thi lễ, tức thì mười phương thế giới thảy đều vang động.

Vua ở trong pháp Hội nghe Chư Phật đều thọ ký cũng như lời Đức Phật Bảo Tạng đã nói trên đó, thì rất đổi vui mừng, liền chấp tay đảnh lễ, rồi ngồi nghe Phật Bảo Tạng thọ ký cho các vị Bồ Tát khác.

Từ đó về sau, vua Vô Tránh Niệm mạng chung thọ sanh ra các đời khác, kiếp nào cũng giữ lời bổn nguyện, tu hạnh Bồ Tát cứu độ chúng sanh, trải vô lượng kiếp quả mãn công viên hiện thành Chánh Giác, đến nay đã mười đại kiếp rồi, Ngài ở cõi Cực Lạc Thế Giới bên Tây Phương, đương giảng dạy các Pháp Đại Thừa và hằng tiếp dẫn chúng sanh đem về cõi ấy.

SỰ TÍCH QUAN THẾ ÂM BỒ TÁT

Đức Quan Thế âm Bồ Tát, khi chưa xuất gia tu hành, có một kiếp Ngài làm con đầu lòng của vua Vô Tránh Niệm, tên là Bất Huyến Thái Tử.

Trong thời kỳ vua ấy thống trị thiên hạ, thì có Phật Bảo Tạng ra đời. Vua thấy nhơn tâm xu hướng theo lời giáo hóa của Phật càng ngày càng đông, bèn suy nghĩ rằng: “Nếu Đạo Phật không phải chơn chánh, thì đâu có lẻ người ta sùng bái khắp xứ như vậy!”

Nên vua mới phát tâm sắm đủ lễ vật đến cúng dường Phật và chúng Tăng trong ba tháng, và lại khuyên các vị vương tử và đại thần cũng làm như vậy. Khi ấy Bất Huyến Thái Tử vâng lời Phụ Vương, hết lòng tin kính, sắm đủ các món ngon quý và đem những đồ trân trọng của mình mà dưng cúng cho Phật và đại chúng trong ba tháng, không trễ nãi bữa nào và cũng không món gì kém thiếu.

Quan Đại thần Bảo Hải, là phụ thân của Phật Bảo Tạng, thấy vậy khuyên rằng: “Điện hạ đã sẳn lòng tu phước mà cúng Phật cúng Tăng: vậy xin Điện hạ hãy đem công đức đó mà hồi hướng về Đạo Vô Thượng Bồ Đề, chớ nên cầu sự phước báu trên cõi Trời Đao Lợi hay là cõi Trời Phạm Thiên làm chi.

Bởi vì mấy cõi ấy, tuy là cảnh vật vui tốt, nhơn dân vui sướng, căn thân đẹp đẽ, thọ mạng lâu dài, đặng phép thần thông, dạo đi tự tại, những đồ y thực sẵn có, các cuộc du hí đủ bày, trăm thức tự nhiên thọ dụng đủ đều khoái lạc, không có sự khổ như cõi nhơn gian.

Cái phước báu trong các cõi đó tuy là mỹ mãn như thế, nhưng còn thuộc về hữu lậu, có hư có mất, chắc chắn gì đâu, chính là sự vô thường, thật là tướng vô định, như cơn gió thổi mau không có thế lực gì cầm lại đặng: hết vui thì xảy ra buồn, hết sướng thì trở lại khổ, dầu có sống lâu đến mấy ngàn năm đi nữa, cũng không khỏi con ma sanh tử lôi kéo vào đường nọ ngõ kia.

Nếu Điện hạ cứ cầu phước báu đó, chắc không thoát khỏi ải sanh tử luân hồi: nếu đã không khỏi luân hồi, thì chưa chắc lúc nào đặng tiêu diêu tự tại.

Chi bằng Điện hạ đem công đức đó mà cầu món phước báu vô lậu, không hư không mất, đời đời kiếp kiếp vượt ra ngoài ba cõi bốn dòng hưởng sự an  vui vô cùng vô tận, và hồi hướng về Đạo Bồ Đề mà cầu mau thành Phật quả, đặng cứu độ chúng sanh khỏi sông mê biển khổ. Vậy phần tự lợi đã vuông tròn, mà đức lợi tha lại đầy đủ nữa.

Bất Huyến Thái Tử nghe ông Bảo Hải khuyên nói như vậy, bèn đáp rằng: “Ta xem xét cả thảy chúng sanh trong đường địa ngục chịu sự khổ cực: còn kẻ nhơn gian và người thiên thượng thì đủ điều cấu nhiễm, lắm chuyện trần lao, không có chút nào đặng thanh tịnh, bởi đó mà tạo thành tội nghiệp, nên mới thọ quả báo mà đọa vào ba đường dữ là: địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh”.

Bất Huyến Thái Tử đáp lại rồi tự nghĩ rằng: “Bởi chúng sanh ở trong đời không gặp đặng những người hiền nhơn quân tử, khuyên việc lánh dữ làm lành mà dìu dắt lên con đường giải thoát, chỉ gặp những kẻ tàn ác tiểu nhơn cũ dụ nhau kết bạn bè, thường xúi dục những điều bất thiện, và lại phá hư Chánh Pháp, khinh Pháp Đại Thừa, làm cho mất cả căn lành, thêm điều tà kiến, vì vậy mới che lấp tâm tánh, không biết đạo đức là gì, nên phải chịu nổi đày đọa”.

Bất Huyến Thái Tử ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi thưa rằng: “ Nay tôi đối trước mặt Phật và đại chúng mà tỏ lời như vầy: Tôi nguyện đem tất cả các món công đức tôi đã từng cúng dường Tam Bảo và các món công đức tôi đã từng tu tập Pháp mầu mà hồi hướng về đạo Vô Thượng Bồ Đề.

Tôi nguyện trong khi tôi tu những điều công hạnh Bồ Tát, làm những việc lợi ích cho chúng sanh, nếu tôi xem có kẻ mắc sự khốn khổ hiểm nghèo ở trong hoàn cảnh ám muội, không biết cậy nhờ ai, không biết nương dựa đâu, mà có xưng niệm danh hiệu tôi, tức thời tôi dùng phép Thiên nhỉ mà lóng nghe và dùng phép Thiên nhãn mà quan sát coi kẻ mắc nạn ấy ở chỗ nào, cầu khẩn việc gì, đặng tôi hiện đến mà cứu độ cho khỏi khổ và đặng vui . Nếu chẳng đặng như lời thề đó thì tôi không thành Phật.

Thưa Đức Thế Tôn! Nay tôi vì hết thảy chúng sanh mà phát lòng đại nguyện, tu học về Pháp xuất thế, lo làm các công hạnh tự giác tự lợi, nguyện khi phụ vương tôi là Vô Tránh Niệm, trải hằng sa kiếp nhẫn sau thành Phật, hiệu là A Di Đà Như Lai ở cõi An Lạc, Thế giới, hóa độ chúng sanh xong rồi, chừng nhập Niết Bàn, Chánh Pháp truyền lại, thì tôi tu hạnh làm việc Phật sự. Đến lúc Chánh Pháp gần diệt, hễ diệt bửa trước thì bửa sau tôi chứng Đạo Bồ Đề.
Xin Đức Thế Tôn từ bi mà thọ ký cho tôi, và tôi cũng hết lòng yêu cầu các Đức Phật hiện tại ở hằng sa thế giới trong mười phương đều thọ ký cho tôi như vậy nữa?

Đức Bảo Tạng Như Lai nghe mấy lời nguyện ấy, liền thọ ký Bất Huyến Thái Tử rằng: “ Ngươi xem xét chúng sanh trong cõi Thiên Thượng Nhơn gian và trong ba đường dữ đều mắc những sự tội báo, mà sanh lòng đại bi, muốn đoạn trừ mọi sự khổ cực, dứt bỏ những điều phiền não và làm cho cả thảy đều đặng hưởng sự an vui.

Vì người có lòng soi xét những loài yêu cầu của loài hữu tình trong thế gian mà cứu khổ như vậy, nên nay Ta đặt hiệu là: Quan Thế Âm. Trong khi ngươi tu hạnh Bồ Tát, thì giáo hóa cả vô lượng chúng sanh cho thoát khỏi sự khổ não và làm đủ mọi việc Phật sự.

Sau khi A Di Đà Như Lai nhập Niết Bàn rồi, thì cõi Cực Lạc lại đổi tên là: “Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu”, y báo càng tốt đẹp hơn trước đến bội phần.

Chừng đó, đương lúc ban đêm, độ trong giây phút, có hiện ra đủ thức trang nghiêm, thì ngươi sẽ ngồi trên tòa Kim Cang ở dưới cây Bồ Đề mà chứng ngôi Chánh Giác hiệu là: “Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sang Vương Như Lai”, phước tròn hạnh đủ, muôn sự vẻ vang, đạo Pháp cao siêu, thần thông rộng lớn, rất tôn rất quý, không ai sánh bằng mà lại sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, rồi khi diệt độ thì Chánh Pháp còn truyền bá lại đến sáu mươi ba ức kiếp nữa.

Bất Huyến Thái Tử nghe Phật Bảo Tạng thọ ký rồi, liền vui mừng mà thưa rằng: “Bạch Đức Thế Tôn! Nếu sự thề nguyện của tôi quả đặng hoàn mãn như lời Ngài nói đó, thiệt là hân hạnh biết bao! Nay tôi lạy Ngài xin làm thế nào cho các Đức Phật hiện ở hằng sa thế giới cũng đều thọ ký cho tôi và khiến cho cả thảy thế giới đều đồng thời vang ra những tiếng âm nhạc, và các kẻ chúng sanh nghe tiếng ấy đều đặng thân tâm thanh tịnh mà xa lìa mọi sự dục vọng trên đời”.

Lúc Bất Huyến Thái Tử thưa rồi, đương cúi đầu Lễ Phật, tức thì các Thế giới tự nhiên rung động vang rền, kêu ra những tiếng hòa nhã, ai ai nghe đến cũng sanh lòng vui vẻ, là cho các điều dục vọng bổng nhiên tiêu tan cả.

Khi ấy, thoạt nghe các Đức Phật ở mười phương đồng thinh thọ ký cho Quan Thế Âm rằng: “Đương khi thời kiếp Thiện trụ, ở tại cõi Tán Đề Lam thế giới, nhằm lúc Phật Bảo Tạng ra đời  mà giáo hóa chúng sanh, có con của vua Vô Tránh Niệm, tên là Bất Huyến Thái Tử phát tâm cúng dường Phật và Đại chúng trong ba tháng: Do công đức đó, nên trải hằng sa kiếp sẽ thành Phật, hiệu là: Biến Xuất Nhất Thiết Công Đức Quang Minh Sang Vương Như Lai, ở về thế giới Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu”.

Bất Huyến Thái Tử khi đặng Chư Phật thọ ký rồi, thì lòng rất vui mừng.
Đến khi mạng chung, thì Ngài thọ sanh ra các đời khác, trải kiếp nọ qua kiếp kia, hằng giữ bổn nguyện, gắng công tu hành, cầu đạo Bồ Đề, làm hạnh Bồ Tát, chăm lòng thi hành những sự lợi ích cho chúng sanh, không có khi nào mà Ngài quên cái niệm  đại bi đại nguyện.

Hiện nay Quan Thế Âm đã chứng được bực Đẳng Giác Bồ Tát, ở cõi Cực Lạc mà hầu hạ Đức Phật A Di Đà, hằng ngày tiếp dẫn chúng sanh trong mười phương đem về cõi ấy.

Đến sau, Đức Phật A Di Đà nhập Niết Bàn rồi, thì Ngài kế ngôi Phật vị mà giáo hóa chúng sanh.


Quý vị có thể tham khảo thêm tại trang web:

Trên đây em chỉ nêu hai tài liệu điển hình để quý độc giả tham khảo không mất thời gian công sức để truy cập trang web. Cũng căn cứ vào trang web này, thì ngài A Di Ðà có 4 người con là:

1. Quán Âm Tự Tại.
2. Ðại Thế Chí.
3. Văn Thù Sư Lợi.
4. Phổ Hiền.

- Cử tọa phái Đông Tà: Cho tui xen ngang chút đi Tam Tiểu Thư. Tui mệt cô lắm rồi. Cô nói chuyện vừa dài vừa gây sốc. Cái gì mà Ngài A Di Đà vừa là Phật rồi vừa có 4 người con toàn là Phật zậy? Chả lẽ họ cùng một gia đình? Vậy vợ của Ngài A Di Đà thì sao? Giang hồ đồn rằng CTR là người "dám làm bậy, dám nói bậy", tui thấy tin đồn này có lý à nha!

- Tam Tiểu Thư: Dạ thưa cử tọa Đông Tà, em thiết nghĩ, có lẽ không phải mình em, mà có lẽ nhiều người cũng không ngờ được rằng tất cả những vị kể tên nói trên đều cùng thuộc về một gia đình. Em xin có một nhận xét chủ quan, nếu có gì sai sót, mong quý cử tọa tha lỗi. Theo tài liệu mà em có dẫn chứng ở trên, thì vị Bảo Tạng Như Lai: "liền xuất gia tu hành, chẳng đặng bao lâu đã thành Phật" ??? Em không thể tin nổi từ việc xuất gia tu hành, cho đến việc thành Phật, chỉ vọn vẹn có 13 chữ. Em nhớ không lầm, thì siêu đẳng như Ngài Sakya Muni cũng phải vô cùng gian truân vất vả, trải qua biết bao nhiêu khảo đảo. Quý cử tọa thấy không, ai mà tu thì cũng vậy chứ. Phải đợi cho đến cuối đời mới nhập Niết Bàn. Bản thân ngài A Di Ðà tiền thân là vua Vô Tránh Niệm, chỉ làm công việc cúng dường trọn 3 tháng, cầu đạo Vô Thượng Bồ Ðề, phát Bồ Ðề Tâm, tu Bồ Tát hạnh, học đạo Ðại Thừa, cuối cùng thành Phật, đổi tên từ Vô Lượng Thanh Tịnh thành A Di Ðà Như Lai.

Kính thưa quý cử tọa Tây Ðộc cùng Đông Tà, quý cử tọa có thể tham khảo rất nhiều tài liệu khác trên trang web cũng như các sách vở đã in bằng tiếng Việt Nam.

Em xin đăng cử một tài liệu khác nói về Tịnh Ðộ Tông của tác giả Nguyễn Tuệ Chân. Em xin tóm lược như sau:

Câu mở đầu tác giả cho biết Tịnh Ðộ Tông là một Tông phái Phật giáo Trung Quốc còn có tên gọi là Liên Tông, tông phái này được thành lập đời Ðông Tấn 402. tông phái này chủ trưông trì danh niệm Phật để vãng sinh về "Cõi Tịnh Thổ". Những người mở đầu tông phái này là:

- Tuệ Viễn
- Huyện Loan
- Ðạo Xước
- Thiện Ðạo

Tuệ viễn và nhóm 123 người kết hợp thành một xã gọi là "Bạch Liên Xã". Ðây là tập thể truyền bá đầu tiên tư tưởng Tịnh Ðộ ở Trung Quốc. Nổi tiếng nhất là Tuệ Nhật thuộc hệ phái Lạc Dương chủ trương "Thiền tịnh song tu".

Kinh điển của Tịnh Ðộ Tông có 4 cuốn gọi là 3 Kinh 1 Luận:
* A Di Ðà Kinh / Vô Lượng Thọ Kinh / Quán Vô Lượng Thọ Kinh
* Vãng Sinh Luận. 

Cách tu tập: Niệm tên Phật làm động lực bên trong, dùng nguyện lực A Di Ðà Phật làm động lực trợ duyên bên ngoài, trong ngoài tương ưng, nhân duyên hòa hợp, vãng sinh vào thế giới Cực Lạc.

Em thiết nghĩ, bất cứ ai dựa trên cơ sở tri thức luận lành mạnh đều có thể thấy cách tu hành của trường phái Tịnh Ðộ Trung Quốc và Phật Giáo Nguyên Thủy có quá nhiều dị biệt, gần như xét ở bất cứ góc cạnh nào.

Nếu Ngài Sakya Muni là người khai sanh ra Phật Giáo như tất cả mọi người đã biết, thì có lẽ Ngài Tuệ Viễn là người khai sanh ra Tịnh Ðộ Tông. Nếu ngài Sakya Muni có một lý lịch khá rõ ràng, thì các vị Phật được đề cập tới ở trong trường phái Tịnh Ðộ có những tiểu sử khá mơ hồ, kể cả những địa danh, thời gian, mà không ai có thể kiểm chứng được. Ta lấy thí dụ: Nói về vua Vô Tránh Niệm là tiền thân của ngài A Di Ðà, xuất hiện ở một giai đoạn thời gian gọi là "Về khoảng hằng sa kiếp trước, có một Đại Kiếp gọi là Thiện Trì", địa danh gọi là cõi Tản Đề Lam. Phải bảo với những thông tin như thế này thì việc truy cập cũng rất khó khăn, hay nói đúng hơn là không thể thực hiện được.

Nếu Phật Giáo Nguyên Thủy với chủ trương cơ bản nhất là:

"tự thắp đuốc mà đi"

là dựa vào chính mình; thì trường phái Tịnh Ðộ lại dường như là nương nhờ vào tha lực với những vị Phật, những vị Bồ Tát, và những Thần Linh … để van vái cầu xin. Nếu căn cứ vào những tài liệu cho là của Phật Giáo Nguyên Thủy, và nếu chúng ta chấp nhận những tài liệu này là gần với lời Phật nói nhất, thì chúng ta thấy, ngài Sakya Muni đã làm một công việc phải nói cách mạng thời bấy giờ (kể cả với Tịnh Ðộ Tông), là khai tử toàn bộ Thần Linh. Kể cả Thượng Ðế cũng phải nói lời chia tay với tư tưởng của Sakya Muni.

Ðây phải bảo là cái vòng Kim Cô mà từ thời Veda, đã tự sáng tác ra và trói buộc mình. Ngài Sakya Muni đã làm một công việc là giải phóng con người ra khỏi nỗi sợ hãi, quỵ lụy, van vái cầu xin Thần Linh.

Nay với sự ra đời của trường phái Tịnh Ðộ sau khi Phật nhập Niết Bàn khoảng gần 1000 năm, thì chiếc vòng Kim Cô lại tái xuất hiện. Con người hữu ý hay vô tình đã tự mình cài đặt phần mềm vòng Kim Cô trong tâm tư của mình. Nói một cách khác, người ta tự chế tác ra Thần Thánh, rồi tự mình lệ thuộc vào hồn ma bóng quế.

Thưa quý cử tọa Tây Ðộc, phần: "lời thưa" trên trang blog chính là quan điểm của nhóm CTR: CTR không đề cao, không phản bác bất cứ một chủ thuyết nào, chỉ mong cùng nhau đóng góp chia sẻ để: "sự thật được phơi bày không che đậy". Rất mong được quý cử tọa Tây Ðộc, Đông Tà thông cảm.

Nói gì thì nói, có một điều mà chúng ta không thể phủ nhận được: Lịch sử tức là lịch sử, sự thật tức là sự thật. Nguồn gốc của trường phái Tịnh Ðộ là một trường phái Phật giáo Trung Quốc, được ngài Tuệ Viễn khai sinh vào năm 402, là một sự thật hiển nhiên. Rất mong được các quý cử tọa khác đóng góp thêm thông tin để làm sáng tỏ vấn đề. Em thiết nghĩ mọi người đều có quyền được biết sự thật. Chính quyền bất cứ ở nước nào, tất nhiên là có cả Việt Nam, đều có những cơ quan để kiểm định hàng thật, hàng giả.

- Cử tọa Nhật báo Tiếng nói vô thinh: Tui thấy chuyện này cũng kỳ lạ. Những gì Tam Tiểu Thư dẫn chứng nghe rất thuyết phục, thế tại sao lâu nay không ai đề cập tới vấn đề này cả? Có phải là do mình cứ đến Chùa rồi nhắm mắt tin vào lời ông Thày nói mà không chịu tự tìm hiểu không?

- Tam tiểu Thư: Theo thiển ý của em có thể có hai lý do:

1. Vì đây là vấn đề nhạy cảm, tế nhị, lệ thuộc đến tín ngưỡng, phong tục tập quán của một xã hội nào đó … Do đó không ai dám nói tới.

2. Người ta theo một Tôn Giáo nào đó vì quán tín của phong tục tập quán, gia đình xã hội … thậm chí là có cử tọa cho biết có Tôn Giáo đã cài phần mềm cho em bé từ khi mới lọt lòng mẹ.

Các Mác từng nói lịch sử là biện chứng, em rất mong được tiếp nhận những phản đề vì nó là tiến trình tất yếu của quy luật lịch sử.

- Cử tọa Nhạc Bất Quần: Tui thì có ý kiến này. Nãy giờ Tam Tiểu Thư nói nghe dữ dằn, phủ nhận cả cái pháp môn tu của giang hồ Tây Độc. Chuyện này sẽ làm ảnh hưởng nhìu nhìu nhìu, vô cùng là nhìu, kinh khủng là nhìu đến đủ thứ A B C D E F G H … nên đứng lên bảo vệ Tây Độc là lẽ sống của ngụy quân tử Bất Quần này. Tam Tiểu Thư bây giờ tính sao? Trong cái sai phải có cái đúng chứ?

- Tam Tiểu Thư: Cám ơn Nhạc Bất Quần đã phát biểu. Em thiết nghĩ rất nhiều người có tâm trạng như quý độc giả Tây Ðộc. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết ứng dụng đúng những cái gì của trường phái Tịnh Ðộ đã nêu ra thì vấn đề lại có một chiều hướng khác. Em xin lần lượt nêu ra tính hữu dụng của cách tập luyện Tịnh Ðộ Tông:

1. Nếu chúng ta:
     a. Niệm hồng danh Phật Ai Di Ðà bằng Tâm. 
     b. Tập trung tư tưởng để nghe những âm thanh này, 
     c. Trong Tâm quán tưởng vị Phật A Di Ðà ở đằng trước mặt.
     thì chúng ta đã triển khai đúng mức công thức bất tử:  
     "Tư cách chú Tâm vào một vật duy nhất ở đằng trước mặt". Đây là công thức định nghĩa Chánh Định của con đường bất tử gọi là Bát Chánh Ðạo.

2. Việc Quán Tưởng nói trên vô tình đã tạo ra một dạng Đàn Pháp, mà các tu sĩ Tây Tạng thường sử dụng. Ðàn Pháp là một dạng phát triển của "Vật duy nhất" trong công thức Chánh Định.

3. Việc Quán Tưởng này còn nâng cao trình độ đạo đức, hay nói chung là đã cụ thể hóa vấn đề giữ Giới, vì tất nhiên các vị Phật thì có rất nhiều Thiện Tâm, trong lúc Quán Tưởng người tu Thiền Định sẽ tạo được sự Tương Ứng với những đức tánh nói trên.

Để kết luận, chúng ta phải nói rằng ngài Tuệ Viễn là Socrate của Á Châu. Tại sao vậy? Xin tất cả chúng ta hãy nhìn lại lịch sử cách đây khoảng 2500 năm, ở Ấn Ðộ nói riêng và thế giới nói chung. Chắc chắn tình trạng dân trí lúc bấy giờ còn rất thấp, thậm chí nhiều nơi còn ăn thịt người và kể cả ngày hôm nay vẫn có nơi ăn thịt người … Với tình hình xã hội như thế thì chủ thuyết của Phật Giáo ra đời có khác gì là một chủ thuyết của người ngoài hành tinh đưa tới? Lịch sử cho biết xã hội Ấn Ðộ lúc bấy giờ chìm đắm trong mê tín dị đoan và sự phân hóa. Kinh Vệ Ðà thống trị xã hội bấy giờ thật ra chỉ là những tài liệu nói về: Cúng Tế, những Nghi Lễ, Thần Linh … Xã hội chia ra 4000 đẳng cấp căn cứ vào một vị Thần nào đó.

Kể cả đến ngày hôm nay, khoa học hiện đại hoàn toàn không có khái niệm gì về những loại không gian, hệ quy chiếu gọi là hình ảnh, không gian hệ quy chiếu tư tưởng … Nói một cách khác, tư tưởng Phật Giáo không phải gọi là cao siêu, mà thực sự phải bảo rằng đó là một tư tưởng ở ngoài hành tinh chúng ta đang sống. Lý do có thể giải thích như sau: Sakya Muni cũng như một số người đương thời, đã mô tả thế giới khách quan trong khi Xuất Thần Nhập Định.

Công lao của Ngài Tuệ Viễn, nói theo kiểu Socrate, là đã kéo Phật Giáo từ trên trời xuống dưới đất. Những khái niệm trừu tượng như: Niết Bàn, Giác Ngộ …  đã được ngài Tuệ Viễn cụ thể hóa bằng các nhân vật, bằng các hình ảnh mà nhiều người có thể hiểu được, nhiều người có cơ hội tiếp cận. Nhân vật Phật A Di Ðà là biểu tượng của lòng từ bi không bờ bến, niệm hồng danh Phật A Di Ðà là cách thực hiện Chánh Định (Samasamadhi)

Nếu hiểu như thế này thì trường phái Tịnh Ðộ Tông chính là chiếc cầu nối cần thiết cho truờng phái Phật Giáo Nguyên Thủy. Chính nhờ Tịnh Ðộ Tông là cái gạch nối mà nhiều người có cơ hội để tiếp cận được với Phật Giáo Nguyên Thủy của Sakya Muni.

Em hy vọng rằng phần vừa trình bày phần nào giúp quý cử tọa thấy được mặt khác của một vấn đề, không đến nỗi cho rằng CTR "như tạt nước sôi vô mặt thiên hạ". Các Mác có lẽ có lý khi mô tả tiến trình lịch sử là một tiến trình biện chứng.

Xin cảm ơn tất cả quý cử tọa đã cùng Tam Tiểu Thư chia sẻ. Bây giờ cũng gần giờ Ngọ xin mới quý cử tọa dời bước sang phòng bên dùng cơm chay thân mật với Tiêu Cục XVKP.