Pages

Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 30

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 30: Đối thủ của Thần Chết

 

- Tam tiểu Thư: Ông Tổng Quản ơi, kể ra từ năm ngoái đến năm nay, ông cũng đã viết khá nhiều. Ông bàn về đủ thứ: Lúc thì tìm hiểu về Thiền Định, lúc thì nói về Vi Diệu Pháp. Ông còn "chịu chơi" hơn nữa là dám đụng đến vấn đề con mắt thứ 3. Bữa nay ông "lấn sân" nói về cái chết. Làm vậy coi chừng độc giả phê bình ông là lớn tuổi nên lẩm cẩm, toàn nói chuyện … ngẫu hứng lạc đề đó! 


- Ông Tổng Quản (mỉm cười): Không lạc đề đâu cô chủ nhỏ ơi. Những gì chúng ta đề cập tới không những là không lạc đề, mà nó chính là những vấn đề nằm ngoài ý thức, nằm ngoài "vùng phủ sóng" của con mắt người bình thường. Ðây chính là vương quốc của con mắt thứ 3 đó cô. Không có con mắt thứ 3, chúng ta không bao giờ biết được những vấn đề này. Làm sao biết chết là như thế nào khi chúng ta còn đang sống? Chẳng lẽ cô không tò mò muốn biết những người từng sống trong vương quốc của con mắt thứ ba thấy gì, biết gì về cái chết sao?

- Tam Tiểu Thư: À! Ông có lý … Tôi rất sợ chết, nhưng thật ra tôi không biết rõ chết là gì, cái gì chờ đợi con người sau khi chết đi.
- Ông Tổng Quản: Nếu cô muốn hiểu được lúc chết cái gì xảy ra, thì câu trả lời là: Y hệt lúc Nhập Định. Điều này cô hoàn toàn có thể làm được Tam tiểu Thư à. Nhập Định thực sự là một tiến trình thao tác kỹ thuật, nhằm chấm dứt đời sống có ý thức của một con người bình thường (ordinary man) và nhường chỗ cho một cuộc sống khác, cuộc sống ngoài thân xác vật lý.

Tuy lúc Nhập Định có sự chuyển đổi trạng thái sống, nhưng dường như vẫn có một cái gì đó, có lẽ là cái tôi mang tính chất liên tục, không đứt đoạn, hiện hữu ở dạng này hoặc dạng khác. Nói theo ngôn từ vật lý, nó mang tính chất của năng lượng; có nghĩa là không thể mất đi, không thể tạo ra. Ðiều này mong Tam Tiểu Thư và quý độc giả đặc biệt lưu ý. Với bất kỳ ai, những lần thực sự Nhập Định đầu tiên chính là một dạng chết đột ngột. Chúng ta lang thang, trôi dạt vô định, không biết đi về đâu, cảm nhận mình là một con người đầy bất an yếu đuối. Rất có thể do tính chất không đồng nhất của thời gian, người tập Thiền Định đã mất đi xung lực của định lực. Mặt khác vì không gian không đẳng hướng, chúng ta lúng túng mất phương hướng. Trạng thái này kéo dài bao lâu thì tùy theo từng cá nhân, loại kỹ thuật Thiền Định, sự hiểu biết và công phu tập luyện … Trạng thái xem ra có vẻ ngớ ngẩn, ngây ngô này không phải bất cứ ai cứ tu Thiền Định là đạt được. Tự làm cho mình chuyển đổi chiều không gian, cảnh giới, không phải là một việc làm dễ chịu. Có thể bạn hay tôi nỗ lực cả đời cũng không thực hiện được điều này.

- Tam Tiểu Thư: Ông nói tiếp đi. Tôi thì đoán rằng hình như ông nhập định cũng có đẳng cấp; vậy thì ông có thể chia sẻ thêm kinh nghiệm của ông về vấn đề này không?
- Ông Tổng Quản: Như đã nói ở trên, việc Nhập Định thành công còn lệ thuộc vào rất nhiều yếu tố:
 

* Người tập Thiền Định có một lý thuyết đáng tin cậy hay không? 
* Kỹ thuật Thiền Định có khả thi hay không? 

Sự minh triết của bản thân, sự chuyên cần, thái độ cầu tiến, một yếu tố có lẽ là quan trọng cho bất cứ ai khi học bộ môn nào đó là kỷ luật bản thân: Ðứng ở hệ qui chiếu không gian một chiều, tất nhiên có 3 trạng thái có thể xảy ra mà ai cũng biết: Tiến lên, đứng im hoặc là lùi. Giả thuyết kịch bản tích cực là khi đã đạt được sự tiến bộ nào đó, liệu có tiến mãi hay bất chợt lại thối lui? Không thiếu gì người xảy ra trong 2 trường hợp điển hình sau đây:

1. Vì kinh tế khó khăn nên bước vào con đường tu tập. Sau một thời gian kinh tế cá nhân được cải tiến khả quan, người đó không còn thích tập nữa, mà lại thích hưởng thụ !!!

2. Tập luyện có một số ấn chứng nào đó thì cho là mình đã đắc đạo! Người ta có kể lại, có những vị sau khi công phu ,thay quần áo, thấy những tia lửa nhỏ chớp sáng nổ lách tách, thì lại cho là mình đã đắc đạo! (thật ra ai cũng biết đó chỉ là hiện tượng tĩnh điện).

- Tam Tiểu Thư: Các thông tin mà ông có được chắc là do cuốn tạp thư phải không? Ông thử xem tài liệu này nói gì về việc chết đột ngột, cụ thể như một cô sinh viên người Trung Quốc mới chết do khủng bố tại BOSTON - một thành phố tại Hoa Kỳ. Ðây chỉ là một trường hợp điển hình trong muôn vàn cái chết đột ngột.
- Ông Tổng Quản: Cuốn Tạp Thư đã có sẵn câu trả lời. Tam Tiểu Thư à! Bản thân cô cũng như hầu hết nhân loại, đều phải ngủ và nằm mơ. Đây là một trạng thái tâm sinh lý tự nhiên của hầu hết các sinh vật có cấu tạo tương tự con người. Theo tài liệu này, ngủ và nằm mơ chính là một dạng thiền thụ động. Trong lúc nằm mơ, hầu hết nhân loại đều có kinh nghiệm cuộc sống ở ngoài thân xác vật lý. Người ta lang thang nơi này nơi kia hoàn toàn nằm ngoài ý thức bình thường của con người. Ai có kinh nghiệm thực sự về thiền định, kể cả những người cận tử, đều kể lại những kinh nghiệm tương tự. Rất có thể cái chết của một người bình thường cũng diễn tiến như vậy, do họ chẳng có một kỹ thuật, một sự tập luyện hay một kinh nghiệm nào về cái chết cả. Tất cả chỉ là may nhờ rủi chịu, không biết trông mong vào cái gì.

- Tam Tiểu Thư: Nếu một người chưa có Nhập Định được, nhưng lại có niềm tin Tôn Giáo thì sao ông? Thí dụ như mình thường xuyên niệm Phật thì lúc chết sẽ thế nào?
- Ông Tổng Quản: Nếu một người có thói quen theo đuổi một Tôn Giáo và họ thuộc nằm lòng một số câu kinh nào đó. Nếu điều này trở thành phản xạ thì thấy dường như tình trạng có sự cải thiện, không gian sáng hơn, rõ ràng hơn. Họ cũng cảm thấy nhẹ nhõm, yên tâm hơn. Thực sự đây là hệ quả của việc tập trung tư tưởng; đó cũng là một dạng Thiền Định và tạo ra định lực.

- Tam Tiểu Thư: Vậy còn chuyện mình niệm danh hiệu vị giáo chủ mà mình tin tưởng thì sao ông? Vị này sẽ tiếp dẫn mình về cõi của Ngài chứ?
- Ông Tổng Quản: Trên nguyên tắc mà nói thì bất kỳ các vị Giáo Chủ nào, dù có thần thông quảng đại, từ bi, nhân ái cách mấy cũng không thể giúp chúng ta được đâu. Tài liệu Vi Diệu Pháp đã giải thích rằng các vị Giáo Chủ ở những không gian khác và một người vừa chết có cấu tạo hoàn toàn khác nhau. Do vậy lời cầu xin của con người là những tiếng nói không có âm thanh và vô nghĩa. Chính định luật tương ứng của thế giới khách quan đã ngăn cản sự giao tiếp này.

- Tam Tiểu Thư: Các nhà lãnh đạo tôn giáo khắp nơi thường nói: "Hãy bước vào nhà của tôi, tin vào giáo điều của tôi. Rồi bạn sẽ có một vé miễn phí vào cửa Thiên Đàng
". Vị khác thì nói "Nếu bạn không có niềm tin, thì khi chết sẽ bị lửa Địa Ngục thiêu cháy, đọa Địa Ngục đời đời …".

Tuy họ thường tuyên bố vậy, nhưng họ lại không thể cung cấp con đường an toàn dẫn đến Thiên Đàng, và cũng không thể giúp cho những người bất hạnh đừng rơi xuống Địa Ngục. Vậy tôi muốn hỏi ông là khi ông Nhập Định, ông có đi thăm Thiên Đàng hay Địa Ngục chưa? Thật ra, những người bình thường như tôi thì chẳng ai biết, và không ai từng biết, Thiên Đàng hay Hoả Ngục như thế nào, cũng không ai biết cả hai có thực hay không. Biết đâu chính việc thiếu kiến thức cần thiết này sẽ tạo ra những khe hở cho những người hay loè bịp nói đủ thứ thì sao ông?

- Ông Tổng Quản: Trong các tài liệu khoa học cũng như cuốn Tạp Thư thì không thấy chỗ nào bàn về một thế giới gọi là địa ngục cả. Ai cũng biết, với bộ môn toán học thì chỉ cần một vài ký hiệu khá đơn giản, người ta có thể tiên đoán được là ngoài không gian mà chúng ta đang sinh hoạt, còn có nhiều không gian khác nữa. Nhưng với những tài liệu tôn giáo thì đây là Thiên Đường của đề tài Địa Ngục. Nói tóm lại, nhân loại bó tay để cho các vị Tôn Giáo độc quyền, giới thiệu, quảng cáo, khuyến mãi rộng rãi các dạng Địa Ngục. Có Tôn Giáo thì bảo muốn tránh thế giới của Địa Ngục thì phải tin tuyệt đối vào một vị Thần Linh Thượng Đế nào đó. Tất nhiên ngược lại là hậu quả khốc liệt đang chờ đón.

- Tam Tiểu Thư: Cá nhân tôi đã có nhiều lần được nghe là có những vị tu sĩ của trường phái nào đó khuyến dụ tín đồ, bắt buộc phải làm thế này thế kia … Trong đó có câu là phải quy phục chính bản thân người tu sĩ đó. Ở đây rõ ràng là hoàn toàn không có sự lựa chọn. Nếu không làm như thế thì có nghĩa là sẽ đến Địa Ngục, đầu thai vào cảnh khổ, Ngạ Quỷ, Súc Sanh. Ngược lại, nếu làm như thế này thế kia … thì bất đọa Địa Ngục. Nếu thực sự định luật của thế giới tự nhiên mà diễn tiến đúng như vậy, thì có lẽ chính bản thân SAKYA MUNI cũng chẳng nên tu Thiền Định làm gì cho tốn công nhọc sức. Quý độc giả cũng như tôi, nếu chỉ cần làm đúng như vậy mà hệ quả thì rực rỡ và hứa hẹn thì phải bảo đó là công việc quá đơn giản. Việc này dễ quá, chẳng khác gì lấy một món đồ chính từ trong túi của mình. 


Ai cũng biết là vào thời điểm này chúng ta có trên 7 tỉ người đang sinh sống trên trái đất. Nếu chúng ta cộng cả số nhân loại đã từng hiện hữu trên trái đất từ thuở bình minh của lịch sử, thì có lẽ con số có thể là 60, 70, hoặc 80 tỉ ... Chúng ta thử tính xem có bao nhiêu người theo những Tôn Giáo nói trên và giả thuyết rằng họ chấp hành nội quy của Tôn Giáo đó nên không ai đọa Địa Ngục. Còn những người không chấp hành, bị đọa Địa Ngục (căn cứ vào phát biểu nói trên) thì nhắm mắt cũng biết là nhiều vô số kể. Như vậy qua quá trình lịch sử của nhân loại, số cá thể bị đọa Địa Ngục trở nên quá đông đảo, tạo ra nạn nhân mãn. Quả thật với số lượng hàng tỉ cá thể, cần phải có nơi sinh hoạt, phân loại, giam giữ, xét xử, thì chắc chắn phải cần đến những máy vi tính “siêu xịn”, có khả năng xử lý hàng tỷ tỷ phép tính trong một giây, mới hy vọng giúp các vị lãnh đạo lý Địa Ngục giải quyết được phần nào lãnh vực hành chính quản lý.

Với bộ não giới hạn và khiêm tốn, tôi thấy có cái gì đó có vẻ không ổn ông Tổng Quản à! Nếu kỹ thuật Thiền Định có thể cải thiện được cái chết, thì rõ ràng nó còn tích cực giúp Địa Ngục cải thiện việc nhân mãn, giải tỏa bớt áp lực dân số ở tại Địa Ngục. Các vị lãnh đạo ở
Địa Ngục rất biết ơn việc làm của chúng ta. Chắc chắn có ngày họ sẽ email cho ông để cảm ơn vì đã hợp tác trong việc chia sẻ áp lực dân số mà họ đang phải chịu đựng.

- Ông Tổng Quản: Tôi có thể đưa ra một vài ví dụ đời thường, để có khái niệm về việc liệu Thiền Định có thể có khả năng ảnh hưởng đến cái chết như thế nào. Tam tiểu Thư à, chắc cô cũng biết người Việt Nam nói riêng, người Á Đông nói chung, hay nói đúng hơn dân tộc của những nước nhược tiểu trên thế giới, thường có khuynh hướng cho con em của mình học tiếng nước ngoài từ khi còn nhỏ. Nếu có điều kiện thì cho con cái của mình sang các nước Tây Phương để theo học tại các trường văn hóa. Hai ngôn ngữ phổ thông nhất mà người ta hay học đó là: tiếng Anh và tiếng Pháp. Lịch sử có thể giải thích tại sao hai ngôn ngữ này lại phổ biến trên thế giới. Trong những thế kỷ trước, hai quốc gia này có số thuộc địa đông đảo nhất thế giới vì lý do họ có lực lượng hải quân rất mạnh. 


Người ta thường nói "mặt trời không bao giờ lặn trên vương quốc Anh”. Không thiếu gì người Việt Nam am tường về tiếng Pháp hơn cả người bản xứ. Tác giả Nguyễn Tiến Lãng ở thế kỷ trước đã viết một tác phẩm được giải thưởng văn chương của Pháp. Khi nói chuyện bình thường, chúng ta có khuynh hướng một cách tự động là suy nghĩ bằng ngoại ngữ, sau đó dịch qua tiếng Việt Nam. Thói quen này chúng ta có thể gặp ở rất nhiều trí thức Việt Nam ở thế kỷ trước, thậm chí cả đến lúc nằm mơ, chúng ta cũng giao tiếp bằng tiếng Anh hoặc tiếng Pháp một cách hoàn toàn vô thức, không suy nghĩ gì cả, quên hẳn mình là người Việt Nam nói tiếng Việt Nam. Nói một cách khác, các ngoại ngữ nói trên đã ăn sâu vào tiềm thức, vô thức của chúng ta. Một thí dụ khác có thể tìm thấy ở rất nhiều người ở kỷ nguyên này là hầu hết ai cũng biết lái xe. Chúng ta vừa lái xe vừa nói chuyện một cách hoàn toàn vô thức. Nằm mơ cũng thấy mình lái xe. Ngoài những thí dụ này, chúng ta có thể kể vô vàn những hiệu ứng tương tự như vậy trong cuộc sống bình thường.

Thiền Định là một hiện tượng tự nhiên do con người phát minh ra. Đó là một bộ môn, một kỹ thuật, một khoa học … như tất cả bộ môn khác, nên hẳn nhiên ai muốn giỏi về Thiền Định cũng phải học tập thực tập lâu dài giống như việc học ngoại ngữ vậy. Nó cũng đòi hỏi người ta học nhiều thập kỷ để trở thành Bản Năng Thứ Hai.

Thiền Định muốn đi vào tiềm thức con người, thời gian cũng tính bằng thập kỷ. Ngoài yếu tố thời gian, nó còn cần thêm lòng say mê. Khi thực tập đến một thời gian nào đó, năng lượng về Thiền Định đã đạt đến một giới hạn, thì nó bắt đầu phát huy tác dụng:
 

* Khi nằm ngủ bình thường, có cái gì đó tự động Nhập Định.  
* Khi nằm mơ cũng thấy mình Nhập Định.  
* Lúc đau rất nặng, khả năng Nhập Định vẫn không mất đi. Rõ ràng đây là một phần thưởng quý giá cho người tu Thiền Định. Việc đau đớn của thể xác vật lý không ảnh hưởng tới khả năng Nhập Định. Việc này nói lên một điều, người ta có thể sử dụng kỹ thuật Nhập Định để đi vào một cảnh giới khác, một không gian khác một cách êm ái dễ chịu.

Từ đây người ta có thể suy ra rằng, kể cả với một cái chết đột ngột, người có năng lực Thiền Định thực sự, có một định lực đáng tin cậy, vẫn có thể Nhập Định một cách tự động. 


Thiền Định chính là  
chiếc phao cứu sinh của người chết, 
là Đấng Cứu Thế của Nhân Loại.

- Tam Tiểu Thư: Những điều ông vừa nói về tác dụng của Thiền Định ở góc cạnh tích cực là căn cứ vào thực tế, hay chỉ là phỏng đoán bằng lý thuyết?
- Ông Tổng Quản: Chết là gì? Về mặt sinh học người ta có rất nhiều kiểu định nghĩa, nhưng có lẽ định nghĩa đơn giản và thực tế nhất là: Chết là không sống lại được. Do đó việc gì xảy ra sau khi chết không ai có thể trả lời được. Các kỹ thuật để liên hệ với người đã chết thì khá phổ biến trên khắp thế giới, kể cả những nước theo chủ nghĩa duy vật cũng sử dụng tới. Mức độ tin cậy tùy vào nhận xét của từng cá nhân. Những người tu Thiền Định cũng rất hay gặp những người đã chết rồi, thậm chí là chết từ nhiều ngàn năm trước. Tại Việt Nam, gần đây cũng có một nhà ngoại cảm nổi tiếng trong nước thậm chí cả ở nước ngoài về việc giao tiếp với những người đã chết rồi. Tuy vậy bức màn bí mật cũng chưa vén lên được. Những gì người ta muốn tìm hiểu mà nó nằm ngoài kiến thức bình thường của con người, thì dường như không có lời giải đáp thỏa đáng, còn đầy dẫy những khoảng trống.

Ai cũng biết, bất cứ vấn đề gì cũng luôn có nhiều mặt. Thiền Định không phải luôn luôn đưa đến những hệ quả tích cực, mà còn đưa đến những hệ quả tiêu cực. Người tu Thiền Định do không hiểu rõ về Phân Tâm Học, thiếu kiến thức về sinh học và nhiều bộ môn khoa học khác nên tự tạo ra trạng thái dồn nén về vật chất, và làm ảnh hưởng trầm trọng tới tinh thần.

Phổ thông nhất là Bản Năng Bảo Tồn, tất nhiên trong đó có bản năng tình dục, bản năng xã hội … Khi tuyến nội tiết của cơ thể vật lý phải chịu đựng một sự dồn nén, thì đến một ngưỡng nào đó nó sẽ gây ra sự đau đớn về tinh thần, có thể đưa tới thác loạn tâm lý, thậm chí là điên loạn.

Phương tiện truyền thông đại chúng gần đây cho biết là Trường Phái Công Giáo đã bị dư luận lên án ở diện rộng về vấn đề lạm dụng tình dục. Dường như Tân Giáo Hoàng đang đứng trước một cuộc khủng hoảng. Nên chăng có một sự giải quyết từ bản chất thay cho việc chỉ chữa triệu chứng? Không có gì cao hơn sự thật, cũng không có gì thấp hơn việc nói dối chính mình.

- Tam Tiểu Thư: Tôi có thể hiểu Thiền Định có thể đưa tới giải thoát?
- Ông Tổng Quản: Khái niệm giải thoát mang màu sắc của trường phái Phật giáo. Người ta nói rằng: Đời là bể khổ. Tu để thoát khổ. Thế nhưng ai đó cũng có thể tự hỏi cuộc sống này vẫn có những thú vui tương đối nào đó chứ, sao cần phải giải thoát? Có một thi sĩ từng nói ”Tri túc tiện túc, đãi túc hà thời túc" "biết đủ là đủ, đợi đủ đến bao giờ mới đủ". Thi sĩ người Pháp ở Thế Kỷ 17 từng nói:
"Hãy bằng lòng những gì mong muốn, những gì mà Thượng Ðế muốn, đó là người thông minh. Chỉ trong trạng thái này, con người mới được thanh thản và yên ổn" (phỏng dịch từ bài thơ tiếng Pháp). Đây là cách sống an lạc rất hay.

Giải thoát là một đề tài được rất nhiều người theo truyền thống Phật Giáo đề cập tới. Nhưng nếu xét ở góc cạnh lý thuyết cũng như kỹ thuật thì có lẽ quá xa tầm tay của nhân loại. Căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp thì dường như một thực thể bất kỳ, phải đi qua một tiến trình về Thiền Định cực kỳ trừu tượng và khó hiểu để đạt đến cái mà người ta gọi là Niết Bàn.

Tài liệu này không có tham vọng để đưa chúng ta tới một cuộc viễn du đầy tranh cãi, mà chỉ hy vọng cung cấp một kỹ thuật nào đó khả thi cho hầu hết mọi người. Chúng ta đan cử một thí dụ có tính cách điển hình sau đây. Một người tu Thiền Định có tính cách không thích nói nhiều. 


Văn Chương Pháp có câu: "nói thì tốt rồi, im lặng thì tốt hơn" (il est bon de parler,il est mieux de se taire), không thích ăn uống nhiều (do suy nghĩ ăn nhiều dễ sanh bệnh tật), không thích quan hệ nam nữ nhiều do dễ sanh bạc nhược … Với những đặc điểm tâm lý này, người tu thiền định sẽ đến một Cảnh Giới tương thích gọi là Sơ Thiền Hữu Sắc. Tại Cảnh Giới này, các Thực Thể không có bộ phận sinh dục nam nữ, vì việc quan hệ nam nữ không tồn tại, không có miệng và mũi vì không có nhu cầu hấp thụ thực phẩm, không khí và không có nhu cầu nói chuyện. Ở môi trường này có một điều nổi bật là Tâm con người đứng im và hệ quả là cảm giác cực kỳ vui và hạnh phúc kéo dài dường như bất tận … Hiện tượng này chúng ta có thể kiểm tra và hỏi thăm người tu Thiền Định đã đạt Sơ Thiền Hữu Sắc.

Nói đến quan điểm Giải Thoát theo Trường Phái Phật Giáo, thì quả là một viễn ảnh khó đạt được đối với một con người bình thường. Tuy nhiên những gì Cuốn Tạp Thư trình bày ở trên thì dường như nằm trong tầm tay của bất cứ ai, nếu đọc những trang giấy này.

- Tam Tiểu Thư: Nghe ông nói vậy tôi cảm thấy mừng. Ước gì nhiều người có cơ duyên hiểu và thực hành những gì ông đã chia sẻ. Hy vọng Thần Chết phải bó tay.
- Ông Tổng Quản: Không lạc quan thế đâu Tam Tiểu Thư ơi. Mặc dù những bài viết này đã được đăng ở nhiều trang web, ở nhiều lĩnh vực khác nhau, được nhiều độc giả ở nhiều quốc gia trên khắp thế giới quan tâm đến, nhưng số lượng rất khiêm tốn; chỉ vài chục ngàn người. Trong khi đó trang web của một ca sĩ Hàn Quốc với thời gian ngắn hơn nhiều, được truy cập dường như tính bằng tỷ lần. Số lượng khổng lồ này chắc cũng làm Thần Chết phải
"choáng" nhưng chắc chắn là ông ta sẽ thích điều này vì còn cả một vương quốc đầy thần dân để trị vì, không lo bị thất nghiệp đâu Cô ơi!
 
(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!





Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 29

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 29: Thiền Định & cái Chết

 

Một ngày đầu mùa Thu, đoàn Bảo Tiêu của tiêu cục XVKP buộc phải đi qua một khu đèo dốc hiểm trở. Khi hoàng hôn buông xuống, đoàn người vừa đói vừa mệt đã đụng độ với bọn thảo khấu, sơn tặc chặn đường để đòi tiền mãi lộ. Những địa điểm như thế này, ở những nước kém phát triển, cho dù có là thế kỷ 21 đi chăng nữa, thì vẫn là nơi tiềm tàng nhiều mối hiểm nguy …

Sau trận giao chiến quyết liệt, Tam Tiểu Thư chỉ bị vết thương nhẹ trên cánh tay. Khác với việc thở phào nhẹ nhõm của Tam Tiểu Thư, ông Tổng Quản lại tỏ ra rất lo lắng. Khi Tam Tiểu Thư thắc mắc về chuyện này, thì ông Tổng Quản nói rằng ông thấy vết thương đang có mủ. Vết thương tuy nhỏ, nhưng vi trùng từ đây có thể di chuyển vào dòng máu và lan rộng ra thành nhiễm trùng toàn thân (septicemia). Chuyện này có thể dẫn đến chết người. Cuốn Tạp Thư có nói là thuốc kháng sinh còn nhiều thế kỷ nữa (khoảng thế kỷ 20) mới có. Cơ thể con người chỉ có thể đề kháng với một số vi trùng, chứ không phải tất cả các loại vi trùng.

- Tam Tiểu Thư: Khu vực phi quân sự, ranh giới giữa cái Sống và cái Chết cũng chẳng khác gì vĩ tuyến 38 ở Bán đảo Triều Tiên. Ông
Tổng Quản à! Có bao giờ Thần Chết dùng các đường hầm để đi xuyên qua biên giới giữa sự Sống và cái Chết hay không?
- Ông Tổng Quản (cười): Theo cuốn Tạp Thư thì nói rằng "Thần Chết vi trùng” có thể đi qua nhiều loại đường hầm thí dụ như đường da, đường tiêu hóa, đường máu, đường tiết niệu, đường phụ khoa … và gây nên vô số cái chết do nhiễm trùng.

- Tam Tiểu Thư: Tôi thì cho rằng ai rồi cũng Chết, vấn đề là người Chết trước, người Chết sau thôi. Nhiễm trùng cũng chỉ là một trong vô vàn lý do gây Chết. Chết là chuyện trời kêu ai nấy dạ thôi ông à. Ngoài việc ông hơi bị trí tuệ, ông còn có bảo bối là Cuốn Tạp Thư nữa. Đúng là quá tầm cỡ nhen ông. Vậy nên tôi muốn hỏi ông chuyện này: Có cách nào để người ta không Chết không? Nếu có, thì việc này có ở trong tầm tay của mọi người hay không?
- Ông Tổng Quản: Thế cô không nghe bàn dân thiên hạ nói, tu Thiền có thể thoát ly sanh tử à?


- Tam Tiểu Thư: Tôi còn nhớ lần trước ông có hứa với quý độc giả
và tôi là sẽ xem lại Cuốn Tạp Thư để tìm hiểu về tài liệu Luận của các Luận Sư, xem có thể giúp ích gì cho việc xây dựng thực tế một giả thuyết, 1 lý thuyết Thiền Định. Nếu làm được như vậy, thì bất cứ ai, kể từ nay trở đi, khi bước vào con đường tập Thiền Định cũng cảm thấy yên tâm phần nào, vì ít ra cũng có 1 giả thuyết. Tất nhiên bộ môn khoa học nào cũng phải có thời gian, trải qua thực nghiệm để hoàn thiện chính mình. Biết đâu có ngày sẽ có 1 lý thuyết, 1 chủ thuyết Thiền Ðịnh đáng tin cậy ra đời. Người mê tu không còn phải tự mò mẫm tìm thầy để học đạo, mà năng lực thực sự của vị Thầy đó lại không được chứng thực từ một tổ chức có thẩm quyền. Tôi toàn đi học Thiền theo kiểu được bạn bè giới thiệu. Tu được hay không thì ráng chịu. Vô tình chúng ta biến sân chơi của bộ môn Thiền Ðịnh thành một chợ đen màu mỡ, siêu lợi nhuận.
- Ông Tổng Quản: Có một tài liệu tôi muốn cô tìm hiểu khi thực hành Thiền Định là Vi Diệu Pháp. Từ từ tôi sẽ trình bày về những kiến thức của Vi Diệu Pháp ở góc cạnh ứng dụng trong Thiền Ðịnh cho cô nghe. Ngoài Vi Diệu Pháp, khi đã được sanh ra và sống dưới thân phận của một con người, có lẽ còn cần nhiều hiểu biết hơn nữa để thực hành Thiền Định. Những bộ môn khoa học ngày hôm nay là những trợ thủ đắc lực, là những viên gạch cơ bản vô cùng hữu ích. Ta có thể kể vô vàn những lợi ích của kiến thức ngày hôm nay trong việc tập Thiền Định. Những câu hỏi như: "Tôi có nên sống độc thân không? Có nên sống một mình không? Có nên vào một nơi vắng lặng sống xa loài người cho dễ tu không? Có nên ngồi Thiền Định càng nhiều giờ, nhiều ngày thì càng tốt không? Có nên nhịn đói nhiều ngày hay không?” Dường như những câu hỏi trên và nhiều câu hỏi khác, khoa học ngày hôm nay đều có khả năng trả lời làm thỏa mãn - kể cả những độc giả khó tánh nhất.

- Tam Tiểu Thư: Tôi thấy câu chuyện hôm nay có vẻ thực tế. Vậy ông tạm thời đừng nói về Con Mắt Thứ Ba hay là lý thuyết Thiền Định gì hết. Ông nói chuyện thoát ly sanh tử cho nó vui đi ông. Tôi đang bị vết thương nhiễm trùng, nên đang sợ Chết quá ông ơi.
- Ông Tổng Quản: Đồng ý với cô, tôi sẽ nói cô nghe về việc tập Thiền Định và cái Chết. Chắc chắn là con người - nói riêng
- và các sinh vật - nói chung - đều tìm mọi cách để tránh né cái Chết. Cái Chết có lẽ đồng nghĩa với khổ đau: Con người là một sinh vật tránh né khổ đau, tìm sự khoái lạc. Ðiều này hoàn toàn chính xác vì Bản Năng Bảo Tồn là bản năng cơ bản của các sinh vật. Nói một cách khác, nó chính là chúng ta.

Tất nhiên như cô đã biết, chúng ta làm nghề bảo tiêu, là một nghề sống trên mũi tên, lưỡi kiếm. Chỉ cần một sơ sót nhỏ là chúng ta có thể bị thương. Vết thương càng lớn, cơ hội nhiễm khuẩn do các vi trùng càng cao. Như trên đã nói, Cô và tôi đang sống trong thế kỷ không có trụ sinh, kháng sinh … Nếu vi trùng đi qua được một số cửa ải, và độc tố đạt đến một ngưỡng nào đó thì chúng ta sẽ chết. Một cái chết hoàn toàn được báo trước, nhưng không tránh được. Cuốn Tạp Thư còn cho biết đến cả Thế Kỷ 21, một số bệnh vẫn không chữa được.

Bình thường thì thời gian và Thần Chết là một cặp không thể tách rời. Đây mới chính xác là một "cặp đôi hoàn hảo". Thực tế cho biết, có những người bị chìm vào hôn mê trong suốt trong nhiều năm, họ vẫn giữ tuổi đời như lúc bắt đầu hôn mê. Nhưng sau 10 năm hoặc 20 năm, khi người này tỉnh lại, ra khỏi hôn mê và có ý thức với thế giới bên trong và ngoài, thì lại già đi trông thấy, từng giây từng phút. Tất cả các cơ quan của cơ thể dường như phải chấp nhận khái niệm sự hỗn loạn gia tăng, đồng biến theo thời gian, vật lý học gọi là khái niệm ENTROPIE, sinh học gọi là gốc tự do (free radical).

- Tam Tiểu Thư: À! Tôi nghe nói về gốc tự do rồi. Đúng ông, bình thường các phân tử trong cơ thể chúng ta ở trạng thái cân bằng. Dưới các tác động như ô nhiễm môi trường, tia tử ngoại, chất phụ gia thực phẩm, thuốc lá, rượu, thuốc men … thì các nguyên tử này mất đi trạng thái quân bình có sẵn, cụ thể là nguyên tử mất đi một điện tử. Việc này dường như tạo ra một phản ứng dây chuyền trong cơ thể con người. Lý do là nguyên tử bị mất điện tử này sẽ trở thành kẻ "khát máu” và đi chiếm đoạt các điện tử từ những nguyên tử lành lặn khác. Những kẻ khát máu này chính là "gốc tự do". Khi đi chiếm đoạt điện tử, nó sẽ tạo ra thêm nhiều gốc tự do mới, làm cho các tế bào bị hư hại, biến chất, dần dần dẫn tới bệnh tật, lão hóa và ngay cả ung thư nữa đó ông.
- Ông Tổng Quản: Khoa học ngày nay đổ rất nhiều tiền để nghiên cứu và cho ra đời nhiều sản phẩm chống lại gốc tự do này nhưng dường như kết quả không như mong đợi. Nói một cách khác, Tử Thần âm thầm lặng lẽ tiến gần tới con người trên con đường một chiều. Tiến trình không thể đảo ngược.

Bình thường mà nói, Cái Chết là đối thủ trực diện của Bản Năng Bảo Tồn vốn có của hầu hết các sinh vật. Hiếm thấy trong thế giới tự nhiên, sinh vật nào lại tự sát. Họa chăng chuyện tự sát chỉ có ở con người.

Quay về với thế giới thời sự, các nhà bình luận trên thế giới đều không tin là nhà lãnh đạo trẻ tuổi Kim Jong Un lại tìm đến một giải pháp tự sát. Lịch sử đã chứng minh là các nhà độc tài trên thế giới không bao giờ muốn chết. Cô hãy nhìn: Tần Thủy Hoàng với việc tìm kiếm thuốc trường sanh bất tử; rất nhiều tỷ phú khác ngày hôm nay cũng tìm đủ mọi cách để sống mãi. Thậm chí có người còn ướp xác để chờ đợi cho đến ngày khoa học tiến bộ, tìm ra cách cho con người sống mãi. Có một nhạc sĩ Việt Nam đã viết: ”... Nếu tôi còn trẻ như năm trước, sẽ đón em về …” Người hùng "gốc tự do” cho đến bây giờ vẫn bất khả chiến bại! Triết gia hiện sinh của thế kỷ trước tuyên bố 
”La mort est absurde". Nhạc sĩ người Hungary đã sáng tác bài nhạc để đời, người ta quen gọi là, bản nhạc tự sát, bản nhạc của thần chết, đó là bài hát "Gloomy Sunday". Bài ca này đã làm cho nhiều người tự sát, cuối cùng chính Tác Giả cũng tự sát. Nói chung cái chết là cái gì ai cũng ghê sợ!

Văn sĩ người Pháp Malherbe vào Thế Kỷ 17 đã mô tả thần chết:

Thần chết có sức mạnh vô song,
Con người khắc khoải van xin được gì
,
Thần độc ác bịt tai giả điếc
,
Khỏi phải nghe than khóc con người
.
Người bần hàn với túp lều dưới rơm phủ
,
Cũng nằm trong định luật tử sinh
,
Ngự lâm quân canh gác đức vua
,
Chẳng cản được tử thần đến viếng
.
 

(Phỏng dịch bài thơ Stances à du Perrier)

Bồ Tùng Linh đã mô tả nấm mồ:
Cô vọng ngôn chi, cô thính chi
,
Ðậu bằng qua giá vũ như ti
,
Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ
,
Ái thính thu phần quỷ xướng thi
,
Nói láo mà chơi
, nghe láo chơi,
Giàn dưa lún phún hạt mưa rơi
,
Chuyện đời đã chán không buồn nhắc
,
Thơ thẩn nghe ma kể mấy lời
.
 

(Tản Đà dịch)

Văn thơ Việt Nam nói về cái chết:

Trông ra ngọn cỏ lá cây,
Thấy hiu hiu gió thì hay chị về
…
Hồn còn mang nặng lời thề
.

Mai tôi chết xin đừng về thăm viếng,
Nhỏ lệ sầu khóc một cánh hoa rơi
,
Phần mộ tôi lá úa ngập như đồi
.


Do lô gic không giải quyết được vấn đề cái chết nên con người phải cầu cứu trí tưởng tượng phong phú của mình. Thậm chí là hoang tưởng, vô căn cứ. Thí dụ như chết là đoàn tụ với thân nhân đã quá cố, chết là trả hết nợ đời. Tôn giáo thì hứa hẹn một đời sống tốt đẹp hơn
”đất nước tôi không ở thế gian này, mà thật ra là cuộc sống vĩnh cửu ở bên kia thế giới” ”sống gửi, thác về” ”về thế giới cực lạc” … Người ta khuyến dụ người chết và khuyến dụ chính mình như vậy.

Tử Thư Tây Tạng đã được nhiều người tin rằng đó chính là một máy định vị GPS về con đường ở bên kia cửa tử cho người chết cũng như người sống. Tuy nhiên ai cũng có quyền tự hỏi, không biết phần mềm của tài liệu này, có phải cập nhật lại cho phù hợp với tình hình thực tế hay không? Nếu cập nhật được thì bao lâu cập nhật một lần? Ai là người có thẩm quyền cập nhật? Kịch bản này không phải luôn luôn là lạc quan, nhiều Tôn Giáo lại đưa ra những kịch bản thật hãi hùng. Từ ngữ Địa Ngục hầu như phổ biến cho các Tôn Giáo. Theo các tài liệu Cận Tử trên phương tiện truyền thông đại chúng có thể truy cập được rộng rãi, thì dường như không nghe một chứng nhân nào kể lại một trạng thái Địa Ngục như các tài liệu của các Tôn Giáo thường đề cập tới. Phải chăng là những người Cận Tử, do Chết chưa đủ lâu, nên chưa thể chứng kiến được cảnh Địa ngục?

Theo truyền thuyết của trường phái Phật giáo thì SAKYA MUNI không bao giờ Chết cả. Ngài nhập Niết Bàn. Nói theo ngôn từ của Thế Kỷ 21 thì có nghĩa là Ngài đã chuyển đổi chiều không gian, khung tham khảo, cảnh giới sinh hoạt … Cơ thể vật lý của Ngài SAKYA MUNI bị nhiễm độc tố của nấm, độc vượt qua một ngưỡng nào đó nên cơ thể vật lý hư hỏng không còn dùng được nữa.

Nói như thế, thì Ngài SAKYA MUNI phải có một cái gì đó có tính chất liên tục, không đứt đoạn … Có thể gọi đó là một cái "Tôi" của chính SAKYA MUNI. Người ta có thể phỏng định như thế này: Khi cơ thể vật lý của SAKYA MUNI bị hư hỏng, Ngài sử dụng kỹ thuật Thiền Định một cách chủ động, tích cực … Có một cái gì đó đã tách ra khỏi cái xác vật lý, ra đi có ý thức, êm ái, hoàn hảo, ngoạn mục … Phải chăng đó là Luồng Tâm Thức, Phật Tánh hoặc Chân Như? Cái Chết mà người ta gọi là nhập Niết Bàn của Ngài SAKYA MUNI, là một kịch bản được tập luyện kỹ lưỡng, quen thuộc từ trước. Một kịch bản hoàn toàn mang tính chủ động; các kỹ thuật được sử dụng một cách tinh vi, tích cực và hoàn hảo.

Đối với một người bình thường, dù Chết ở bất cứ dạng nào thì có lẽ đó là
"bị chết". Họ bắt buộc phải ra đi trong sự hoảng hốt. Họ lúng túng, khiếp sợ, nuối tiếc chính mình, nuối tiếc thân nhân; vì họ chẳng có một kỹ thuật nào, không hề có một sự chuẩn bị và chắc chắn tuyệt đối không có kinh nghiệm gì về cái Chết. Nói tóm lại, cái chết là một cơn ác mộng khủng khiếp nhất, trong đời chỉ gặp có một lần, bất kể người đó là ai, từ một nguyên thủ quốc gia, một nhà tu cống hiến cả một đời người cho việc tu hành, cho đến một công dân bình thường khiêm tốn … Ðó là sự chấm dứt của tất cả mọi hy vọng. Một màn đêm mịt mù đang chờ đón, tương lai là sự tuyệt vọng, cuộc sống là sự cô đơn lạnh lẽo … Nói một cách khác, con người không những bình đẳng trước Thượng Ðế mà đồng thời cũng bình đẳng trước Thần Chết.

- Tam Tiểu Thư (nước mắt lưng tròng): Những điều ông nói làm tôi sợ lắm. Thôi ông đừng nói nữa! Tôi vốn đã sợ Chết, sợ ma … Ông lại dọa tôi nữa chắc đêm nay lại mơ thấy ác mộng. Ước gì tôi được sống mãi, không bao giờ phải Chết … vì Chết dễ sợ quá.

Bây giờ thì tôi cũng hiểu ra rồi ông Tổng Quản à! Cuối cùng ai cũng phải Chết, ông bà tôi đã Chết, ông sẽ Chết, và cuối cùng tôi cũng sẽ Chết … liệu có cách nào tránh được cái Chết dễ sợ như ông đã nói không?
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư đừng quá bi quan. Cô nên nghĩ lại, cái đáng sợ nhất trên đời chính là sự sợ hãi. Cuốn Tạp Thư vẫn có những thông tin rất lạc quan cho chúng ta. Theo thông tin của tài liệu này thì có thể có cách không bao giờ Chết. Cách này hoàn toàn nằm trong tầm tay của mọi người, không cầu kỳ phức tạp, tốn kém và quan trọng là ai cũng làm được … Ðó là cách phá hoại hệ thống phần mềm điện tử của Thần Chết. Khi các số liệu bị mất, Thần Chết muốn gọi hồn ai thì các danh sách đã bị xóa sạch.

- Tam Tiểu Thư: Trên đời lại có chuyện đó à! Hình như ông xem phim khoa học giả tưởng hơi bị nhiều. Ông nói chơi chứ làm sao Thần Chết có máy điện toán để bị hacker tấn công?
- Ông Tổng Quản: Tôi không nói chơi đâu! Tôi chỉ minh họa tiến trình để cho cô dễ hiểu mà thôi. Cô thử nghĩ xem, nếu chúng ta có cách nào tự chuyển mình qua một hệ qui chiếu khác, một không gian khác, một khung tham khảo khác, một cảnh giới khác; thì có nghĩa là chúng ta đã tự đi ra ngoài hệ thống kiểm soát của Thần Chết. Ở những nơi đó, Thần Chết không tương thích để hiện hữu, vì sự cấu tạo của Thần Chết và những môi trường vừa nói trên có sự lệch pha. Có thể chính vì lý do này hay lý do nào khác, mà ngài SAKYA MUNI đã tự di chuyển qua nhiều lớp Thiền khác nhau; nghĩa là qua những Cảnh Giới khác nhau.

Nếu chúng ta tập luyện thành thạo trong kỹ thuật Nhập Định, chuyển đổi các lớp Định theo ý muốn, thì chúng ta có thể chọn nơi đến mà mình mong muốn. Việc này tất nhiên đòi hỏi người tập Thiền Định phải có kỷ luật bản thân chuyên cần tập luyện để có một Định Lực đáng tin cậy. Có lẽ chỉ trong tình huống này thì con người mới đào thoát thành công khỏi vương quốc của Thần Chết.

- Tam Tiểu Thư: Bản thân ông có biết chắc chắn là có những Cảnh Giới khác hoặc Không Gian khác hay không? Hay đó là chuyện ông phỏng đoán?
- Ông Tổng Quản: Tôi biết chuyện đó 100%. Ngay cả bộ môn toán học cũng hoàn toàn tiên đoán được có nhiều không gian khác nhau mà.

- Tam Tiểu Thư: Vậy ông nói nhanh đi. Tôi sốt ruột lắm rồi. Cụ thể mình phải làm sao đây ?
- Ông Tổng Quản: Ngài SAKYA MUNI đã sử dụng kỹ thuật Thiền Định trong lúc bỏ xác vật lý. Xưa nay không thiếu gì người tu Thiền Định có kinh nghiệm về cuộc sống ngoài thân xác vật lý, không thiếu gì người trong lúc Nhập Định đã nhìn thấy thân xác vật lý của mình. Kỹ thuật Thiền Định có thể là chiếc chìa khóa vạn năng tạo ra điều kỳ diệu.

- Tam Tiểu Thư: Tôi có đọc một số tham luận. Ý kiến của một số vị tự cho mình là khoa học gia thì cho là một số hiệu ứng được các người Cận Định, Thiền Định mô tả, chẳng qua chỉ là ảo giác, là phản ứng của não bộ khi thiếu oxygen .
- Ông Tổng Quản: Ngay cả đến đầu Thế Kỷ 21, có điều đáng tiếc là đại đa số các vị cho mình là khoa học gia, lại không phải là những chứng nhân của những hiện tượng nói trên.

Tuy thế chúng ta cũng nên kể tới là có những khoa học gia đã có cơ hội trở thành chứng nhân trực tiếp của những hiện tượng đó. Họ có thể giao tiếp với người đã Chết trong lúc Thiền Định, hoặc kiểm chứng một cách ngẫu nhiên trên thực tế những gì họ thấy được trong lúc Nhập Định. Họ biết trước những việc xảy ra nhiều ngày nhiều tháng, nhiều năm; và sau đó thực tế cho biết là hoàn toàn đúng … Vậy nên không thể gọi đó là ảo giác.

Tưởng nên nhắc lại là:
"Cái gì mình chưa biết không có nghĩa là không có”. 
Theo cuốn tạp thư thì kỹ thuật Thiền Định thực sự cho chúng ta trải nghiệm cuộc sống ngoài thân xác vật lý.

- Tam Tiểu Thư: Tôi hiểu rồi ông Tổng Quản à! Thần Chết là người bạn thân thiết nhất của chúng ta, thân thiết hơn bất cứ ai trong cuộc sống này. Chúng ta vừa chào đời đã có người bạn là Thần Chết. Cả cuộc đời con người là trò chơi "trốn tìm" đầy kịch tính giữa Con Người và Thần Chết. Con Người muôn đời muốn đào thoát khỏi thế giới của Thần Chết, còn Thần Chết muôn đời đi tìm Con Người để đem về làm thần dân của mình.  

 
     Chỉ có con đường Thiền Định,  
     mới đưa ta ra khỏi Vương Quốc Thần Chết.
 

Tam Tiểu Thư ngồi yên lặng nhìn vào vết thương mưng mủ trên cánh tay. Lo lắng hiện lên trong ánh mắt. Cô tự hỏi rằng với một người trình độ tu tập lơ mơ như cô, thì cô sẽ đi về đâu nếu chẳng may cô Chết vào lúc này. Đáp lại câu hỏi đó, cô chỉ nghe tiếng rì rào của hàng cây thông trong gió sớm ...

Còn tiếp …

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu ý!

Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 28

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 28: Sự cần thiết phải có một lý thuyết,  
            một chủ thuyết nào đó, để làm nền tảng,
            chỗ dựa cho việc tập luyện để mở Con Mắt Thứ Ba.

            Những tài liệu Luận của Trường Phái Phật Giáo, 
            có thể đáp ứng được một phần nào yêu cầu nói trên.


- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản cho tôi hỏi chuyện này. Có lẽ chẳng phải một mình tôi, mà có nhiều quý độc giả, trong thời gian vừa qua, đã theo những bài viết của ông và thực hành. Riêng cá nhân tôi thì khi thực tập, cũng có ít nhiều kết quả, lúc thì tiêu cực lúc thì tích cực.

Tôi chẳng hiểu sao mặc dù việc tập luyện của tôi vẫn tích cực, đều đặn, nhưng hình như nó vẫn đứng ở một chỗ. Có cái gì đó làm cho nó không phát triển được, mà đôi khi dường như còn lùi lại nữa. Do không hiểu rõ chuyện gì đang xảy ra nên trong lòng cảm thấy nghi ngờ. Suy cho cùng, hình như đây là một công việc làm không có nền móng vững chắc. Mỗi lần như vậy thì tôi lại đi tìm kiếm thêm thông tin. Thế nhưng những trở ngại khác lại đến. Thí dụ như cách trình bày của bài viết quá khó hiểu, các từ ngữ quá chuyên ngành. Công việc đã khó lại càng khó hơn. Vậy thực sự, để nâng cao chất lượng
Thiền tập và tạo được sự ổn định bền vững … tôi phải bắt đầu từ đâu? Tôi thiếu sót cái gì? ... Ông đừng để tôi phải ca bài "Tôi ơi đừng tuyệt vọng" nha ông!
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư ơi, những gì cô nhận xét có lẽ là chính xác; thế nhưng chuyện gì thì cũng có cách giải quyết.

Những bài viết trong năm vừa qua, nói tóm tắt thì có thể chia làm 2 phần:

1. Những khái niệm tổng quát về bộ môn Thiền Định.
2. Những khái niệm tổng quát của vấn đề Con Mắt Thứ 3.

Lịch sử khoa học cho chúng ta biết rằng bộ môn nào muốn tiến lên cũng cần phải xây dựng được một lý thuyết, ít nhất là giả thuyết. Nếu có được cả một chủ thuyết thì quá tốt. Phát minh khoa học thường có hai con đường kinh điển, một là quan sát các hiện tượng tự nhiên, tìm ra mối liên hệ, sau đó xây dựng lý thuyết. Hai là tiên đoán bằng lý thuyết, thí dụ như lý thuyết vũ trụ cong. Hầu hết những tiện ích mà hôm nay con người đang sử dụng cũng chính là nhờ người ta đã xây dựng thành công lý thuyết vật lý lượng tử. Ngược lại, những gì người ta chỉ biết về hiện tượng mà không xây dựng được lý thuyết, thì việc giải quyết trở nên lúng túng. Một thí dụ về vấn đề này là bệnh ung thư. Đó vẫn là căn bệnh chết người do người ta không biết cái gì gây ra nó nên không thể điều trị hiệu quả.

Quay lại vấn đề
Con Mắt Thứ 3 thì có lẽ cũng không là ngoại lệ. Ngoài một số tài liệu luận của Trường Phái Phật Giáo, chúng ta không tìm thấy trong lịch sử của nền văn minh nhân loại, tài liệu nào đã đề cập tới vấn đề Con Mắt Thứ 3. Trong thế kỷ 20 vừa qua, có lẽ duy nhất chỉ có một tác giả người Mỹ Barbara Ann Brennan có đề cập tới, dạy cách tập luyện để mở Con Mắt Thứ 3, trong tài liệu Bàn Tay Ánh Sáng đã được dịch ra Việt Ngữ. Tuy nhiên, có điều cần quan tâm, là dường như tác giả đã trình bày vấn đề này dưới nhãn quan của Trường Phái Kundalini Yoga. Quý độc giả nếu có hứng thú về đề tài này, xin vui lòng tham khảo tài liệu Bàn Tay Ánh Sáng.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản ơi, tôi đang cần lời khuyên thực tế. Tóm lại, tôi muốn tiến bộ thì phải làm sao? Ông còn nhớ, lúc trước ông bảo tôi muốn tiến bộ trong việc mở
Con Mắt Thứ 3, thì phải tập luyện Thiền Định. Thiền Định thì tôi đã tập rồi, đang tập. Hay dở thì chưa biết nhưng ngày nào cũng ráng tập … Tôi có cảm giác này nha ông, nói ra ông đừng buồn nhưng hình như những bài viết mà ông đã cung cấp kiến thức cho tôi và độc giả theo một tiến trình đi ngược. Đúng ra để giúp người ta dễ dàng tiến bộ, thì phải bắt đầu học và tập theo một hệ thống, một tiến trình thực sự giáo khoa; nghĩa là chúng ta phải học từ lý thuyết, hay nói đúng hơn là giả thuyết của bộ môn này. Sau đó tu Thiền Định thì mới có cơ may để mở Con Mắt Thứ 3. Dường như tiến trình này mới mang tính chất hợp lý và phù hợp với thực tế. Có vẻ ông thấy con người trong thời đại @ này ít có tính kiên nhẫn. Cái gì cũng muốn nhanh, gọn và có kết quả tức thì. Do ông sợ người ta nản nên mới trình bày cách đó. 
- Ông Tổng Quản: Sỡ dĩ tôi phải trình bày theo một lối không hợp lý này vì cũng có những lý do, khó nói ra được. Chúng ta thử quan sát một số đàm luận của quý độc giả. Mặc dù những ý kiến này vô cùng là ít ỏi nhưng đều cho đây là một lối trình bày lòng vòng, không đi vào chủ đề. Mong quý độc giả thử tham khảo những ý kiến chia xẻ của độc giả trên trang web của phattungaynay.net

- Tam Tiểu Thư: Mặc dù tôi đề nghị ông trình bày về lý thuyết tu thiền định, nhưng lòng tôi hơi nghi ngờ. Thật tình tôi chẳng thấy thiền định có lý thuyết gì ngoại trừ vi diệu pháp. Hồi đó tôi cũng từng có Thầy dạy tu Thiền, nhưng có lý thuyết nào đâu. Chẳng biết các Thầy khác có giống Thầy của tôi không. Cao lắm là họ đọc các vấn đề có sẵn trong kinh sách rồi triển khai ra dưới góc nhìn của họ. Ông thì sao? Ông có lý thuyết gì về vấn đề Thiền Định không?
 
- Ông Tổng Quản: Tiến trình của Thiền Định không phải được xây trong một sớm một chiều. Dường như nó đã được xây dựng qua nhiều ngàn năm. Điều này đã được trình bày trong nhiều bài viết trước. Tưởng cũng nên nhắc lại, Thiền Định không phải được tiên đoán bằng lý thuyết về sự hiện hữu của nó. Như tất cả mọi người đều biết, Thiền Định thực sự được xây dựng, xuất phát từ thực tiễn, rồi sau đó mới hình thành, các Trường Phái, các Lý Thuyết, kể cả những lý thuyết khá xa vời thực tế của người Trung Quốc, mà ngay hôm nay khá phổ biến tại Việt Nam.

"Tôi là ai?" là một câu hỏi hóc búa. Nó đã xuất hiện và đi cùng chiều dài của lịch sử. Nhiều bộ môn khoa học khác nhau đều nỗ lực đi tìm câu trả lời. Trong thế kỷ 20 với tài liệu "Con người bí ẩn" một vị bác sĩ đã cố gắng trả lời vấn đề tôi là ai. Từ thuở trước, có người cho là "tôi suy tư bởi vậy tôi hiện hữu", có người thì cho là "Con người là một cây sậy biết suy tư". Ai đi học cũng biết, bộ môn Siêu Hình Học được giảng dạy tại nhà trường. Bộ môn này cũng dạy kỹ lưỡng về 3 vấn đề: Tôi từ đâu đến đây, đến đây để làm gì và đi về đâu? ... Có một quan điểm về vấn đề này đã được đóng góp bởi một quý độc giả trên phattungaynay.net; thế nhưng có lẽ không đơn giản như vậy. Thật ra khi đề cập đến khái niệm Sắc, Thọ, Tưởng, Hành, Thức … thì các tài liệu của Trường Phái Phật giáo cũng chẳng thống nhất với nhau. Dường như các Trường Phái mà chúng ta gọi là những Trường Phái Nguyên Thủy (chứ không phải là một Trường Phái Nguyên Thủy), thì dường như người ta mâu thuẫn với nhau một cách khá sâu sắc. Thực tế có Trường Phái thì công nhận có linh hồn, còn có Trường Phái khác thì lại cho rằng không có linh hồn. Do đó, chúng ta phải đưa ra một quan điểm có lẽ gọi là tổng hợp của nhiều Trường Phái.

Có thể con người là một tổng hợp của một số yếu tố được nêu ra sau đây:

1. Linh hồn được gọi dưới nhiều cái tên khác nhau: Luồng Tâm Thức, Linh Hồn, Chủ Nhân tạo ra các loại Nghiệp.

2. Có nhiều loại Nghiệp Lực. Xét ở nhiều góc cạnh khác nhau, các Nghiệp Lực này là Thiện hay không Thiện xét ở góc cạnh đạo đức; đưa tới Luân Hồi Sanh Tử, xét ở góc cạnh Luân Hồi Sanh Tử; có tạo ra Nghiệp hay không tạo ra Nghiệp, xét ở góc cạnh Vô nhân hay Hữu nhân …

3. Có rất nhiều yếu tố để tạo nên các dạng vật chất, không giống như quan điểm chúng ta vật chất chỉ có 4 dạng: ở thể đặc, thể lỏng, thể hơi, thể plasma. Có tài liệu cho rằng có tới mấy chục yếu tố để tạo ra vật chất.

4. Vấn đề Tâm: Cấu tạo này cũng được rất nhiều quý độc giả đóng góp trong các thảo luận. Tâm xét ở góc cạnh cấu tạo nên con người lại có một tính chất rất đặc thù. Người ta cho rằng theo những tài liệu của Trường Phái Phật Giáo thì số lượng Tâm rất lớn, chưa xác định được.

Hiện tại, chúng ta chưa có một tài liệu nào, để giúp cho người tu Thiền Định thực tế, giải quyết những vấn đề thực tế trong khi tu Thiền Định. Do đó, dù muốn hay không trước mắt chúng ta cũng phải sử dụng những tài liệu của Trường Phái Phật Giáo.

Trong tương lai, chúng tôi xin phép trình bày, một số vần đề cơ bản của kỹ thuật tu Thiền Định qua những tài liệu luận của Trường Phái Phật Giáo, thí dụ như: 


Tam Pháp Độ Luận, 
Thanh Tịnh Ðạo Luận,
Thắng Pháp Tập Yếu Luận.
 
(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!



Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 27

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 27: Con Mắt Thứ Ba dùng để làm gì?
             Tương lai của Con Mắt Thứ Ba.


Mùa xuân đang về:
Muôn hoa quả tưng bừng nảy nở
,
Muôn côn trùng hớn hở sinh sôi
,
Mưa xuân thấm ướt núi đồi
,
Lọc qua cát đá tuôn nguồn suối trong
.
Dòng suối lượn vòng quanh khe núi
…


Tam Tiểu Thư cùng Ông Tổng Quản rong ruổi không mỏi mệt, trên con đường thiên lý của công việc bảo tiêu.

- Tam Tiểu Thư: Tôi tập như vậy cũng gần được cả năm rồi, việc Định Tâm có lẽ cũng thuần thục hơn, đôi khi cũng thấy biết này kia, tôi thấy cũng hay hay. Tuy nhiên, tôi cũng thấy còn rất nhiều thắc mắc.

Tôi muốn nói ông nghe chuyện này.
Tôi không hiểu Con Mắt Thứ 3 thực sự dùng để làm gì. Nếu chỉ dùng để biết việc này việc kia, thì rõ ràng không đáng công để tập luyện. Hơn nữa, nếu tôi tập luyện để có thể biết quá khứ vị lai, thì căn cứ theo quan điểm của truyền thống Phật Giáo, dù có biết trước cũng chẳng giải quyết được gì. Vậy thì biết trước để làm gì chứ? Chắc ông còn nhớ, người ta thường bảo: "Thần Thông không liên quan gì đến Nhân Quả". Như vậy, có Đệ Tam Nhãn thì cũng chẳng giải quyết được vấn đề gì cả. Tôi nghĩ chẳng qua việc này chỉ để thỏa mãn trí tò mò của con người. Đó là chưa kể là người có Đệ Tam Nhãn còn tăng trưởng tính kiêu căng tự ngã do nghĩ mình hay hơn người khác. Đúng là lợi bất cập hại!

Mặt khác, để mở được Con Mắt Thứ 3 cũng không phải là chuyện dễ dàng. Cá nhân tôi thì chưa thấy ai làm được. Tôi xem trên internet nhiều lắm rồi mà mà cũng chẳng hiểu
Con Mắt Thứ 3 là cái gì. Cho dù mở được Con Mắt Thứ 3, thì việc duy trì Con Mắt Thứ 3 nghe nói cũng phức tạp, khó khăn như bảo quản một bông hoa bằng pha lê đó ông.
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à! Chúng ta nói chuyện Duy Tâm một chút nhé. Dường như theo quan điểm của Trường Phái Phật Giáo, trăm chuyện hư hỏng cũng là do hiểu biết không đúng sự thật. Người ta gọi đó là Tà Kiến. Ngược lại, Chánh Kiến là hiểu biết đúng sự thật khách quan …

Ðể tồn tại thôi, chứ chưa nói tới phát triển; thì hầu hết các sinh vật đều phải tìm cách tự mò mẫm, hay do cha mẹ hướng dẫn, để biết hiểu về thế giới khách quan và thế giới chủ quan. Tất nhiên con người cũng vậy, xưa cũng như nay. Nhưng công việc tìm hiểu này, không phải luôn luôn dẫn tới thành công ở tất cả các lãnh vực. Lịch sử đã cho chúng ta thấy rằng kiến thức của con người, ở một số lãnh vực nào đó, lại nghịch biến với thời gian. Đó đúng là một nghịch lý. Chỉ tính riêng trong lịch sử của loài người trong thế kỷ 20, đã có hai cuộc Đại Thế Chiến. Bước sang Thế Kỷ 21, bóng ma của Thế Chiến thứ ba vẫn bên cạnh lịch sử của con người, chỉ chờ đợi cơ hội thuận tiện là sẽ xuất hiện. Tất nhiên ai cũng có thể nhìn thấy được bản chất thực sự của các cuộc Thế Chiến trong Thế Kỷ 20 và hứa hẹn của đầu Thế Kỷ 21 là gì. Đó chẳng qua là do con người bất đồng ý kiến với nhau về quan điểm Thẩm Mỹ, Chính Trị học gọi là Chiến Tranh Ý Thức Hệ.

- Tam Tiểu Thư: Tôi nghĩ ông nói đúng. Các cuộc chiến tranh gần đây là bắt nguồn từ việc không thống nhất tư tưởng của con người. Ông nói kể ra rất hợp lý. Người thì bảo đi khai hóa, người thì bảo là thực dân, người thì quan niệm hạnh phúc phải như thế này, người khác thì lại cho rằng làm thế là vi phạm quyền sống của con người … Nói tóm lại, từ quan sát Thế Giới Khách Quan để hiểu biết về nó, người ta không thống nhất được với nhau về tính chất Thẩm Mỹ. Thế nên cuối cùng phải giải quyết với nhau bằng vũ lực. Kể ra, người xưa đã đặt ra vấn đề hiểu biết đúng sự thật không phải là dư thừa. Nhưng làm sao để chắc chắn là mình hiểu biết đúng sự thật Khách Quan? Từ thế giới Vi Mô cho đến Vĩ Mô, những thành quả hiểu biết của con người chỉ dẫn đến những câu hỏi mới. Vậy thì đâu là sự thật Khách Quan?
- Ông Tổng Quản: Ðúng vậy, đơn giản là người ta ai cũng cho là mình đúng, còn người khác là không đúng. Nhưng sự thật khách quan thì đối với một khoa học gia chân chánh, có một lương tri lành mạnh, chắc chắn không dám khẳng định bất cứ một cái gì. Thực tế, các Lý Thuyết Khoa Học chỉ là các Giả Thuyết.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Nếu biết như vậy tại sao con người không tìm cách chữa trị tận gốc? Việc này sẽ giúp con người thống nhất với nhau về các kiến thức của Thế Giới Khách Quan và Chủ Quan. Như vậy có phải đỡ khổ hơn không?
- Ông Tổng Quản: Nói thì dễ, nhưng ngay đến cả thế kỷ 21 này, với trình độ Khoa Học tiến bộ của ngày hôm nay, người ta vẫn không giải quyết được những vấn đề liên quan đến kiến thức, đến việc thống nhất với nhau về tư tưởng. Có lẽ điều này cũng sẽ không bao giờ làm được.

Từ ngàn xưa cho đến ngày nay, ít có ai đặt lại vấn đề những công cụ quan sát Chủ Quan của con người. Người ta cũng biết các công cụ quan sát của con người, kể cả Trí Tuệ là có tính chất giới hạn. Cho dù biết như vậy, nhưng tìm đâu ra một công cụ khác để thay thế những công cụ đang có của Khoa Học ngày hôm nay.

- Tam Tiểu Thư: Theo tôi nghĩ, để có một hiểu biết sát với sự thật hay đúng với sự thật, thì có lẽ Con Mắt Thứ 3 là một công cụ tuyệt vời. Nếu tất cả mọi người trên trái đất này, đều thấy được sự thật Khách Quan thì có lẽ không còn chiến tranh, hòa bình ấm no sẽ đến với mọi người. Con người sẽ tái lập Vườn Địa Đàng vào thuở bình minh của lịch sử nhân loại.
 
- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à! Nếu hiểu Con Mắt Thứ Ba là một công cụ để quan sát Thế Giới Khách Quan cũng như Chủ Quan, khác với hai con mắt vật chất mà con người vốn có, thì nhân loại vẫn tiếp tục đánh nhau! Mà không chừng sự việc còn đáng e ngại hơn nữa đó. Cuộc chiến có thể còn dữ dội hơn trước, vũ khí còn tàn khốc hơn xưa.

- Tam Tiểu Thư: Trời! Ông nói như vậy là mâu thuẫn với chính mình rồi. Ông không sao chứ? Hình như sức khỏe của ông có vấn đề đó.

 - Ông Tổng Quản (mỉm cười): Tôi không sao đâu! Cám ơn cô! Tôi hiểu tại sao cô lại nghĩ như vậy. Có lẽ không phải mình cô mà quý độc giả, cũng có Vị sẽ nghĩ là Đệ Tam Nhãn đồng nghĩa với Sự Thật, với Chân Lý, với Chánh Kiến … nếu nói theo ngôn từ Phật Giáo.

Tôi xin giải thích cho cô cùng quý độc giả.

Ðối với đại đa số mọi người, ai đó có khả năng thấy biết cái gì đó khác lạ, không giống như bình thường … thì mặc nhiên người ta coi người đó là có Con Mắt Thứ Ba, hoặc nghĩ là được Trời, Phật, Thánh thần, ơn Trên … mách bảo. Với bản chất tâm lý tự ti vốn có của con người, người ta rất thích tin như vậy, ngay cả đối với giới trí thức. Sự thật có lẽ khác xa với điều mọi người mong đợi và có lẽ còn làm cho người ta thất vọng … Con Voi biết trước có sóng thần, nhiều loại Chó lông xù biết trước trời sẽ mưa … rất nhiều các sinh vật khác biết trước các hiện tượng tự nhiên mà một con người bình thường hoàn toàn bất lực. Con Dê biết trước trời sẽ mưa nhiều giờ đồng hồ. Những con vật này không hề tập luyện Đệ Tam Nhãn bao giờ cả. Con người cũng như một số thú vật đều có
Tế Bào Gương, nên đoán trước được hành động của một sinh vật khác. Chính vì lý do này hai người lái xe ngược chiều không đụng vào nhau. Nhưng khi sử dụng chất say, Tế Bào Gương bị mất đi khả năng vốn có của mình nên sanh ra tai nạn.

Những Thực Thể nói trên rõ ràng không liên quan gì đến việc tập luyện Đệ Tam Nhãn cả.

- Tam Tiểu Thư: Vậy thì theo ông Đệ Tam Nhãn là cái gì? Thực sự làm được việc gì? Thực sự giúp ích gì cho con người?

 - Ông Tổng Quản: Theo thông tin được ghi lại trên cuốn Tạp Thư, thì Đệ Tam Nhãn có thể được mô tả như thế này: Đó là một công cụ để tiếp nhận thế giới Khách Quan và Chủ Quan của riêng từng Thực Thể một. Nó lệ thuộc ở cấu tạo của mỗi Thực Thể một, cho dù họ sinh hoạt chung và cùng tồn tại trong một Cảnh Giới.

Chúng ta có thể đan cử một thí dụ cụ thể để cho dễ hiểu. Trong xã hội loài người, cùng là con người, nhưng từng cá thể lại có những công cụ khác nhau để tiếp nhận thế giới Khách Quan và Chủ Quan khác nhau, thậm chí là mâu thuẫn nhau. Thực tế, ở những thế kỷ trước khi nền Y Khoa chưa tiến bộ, thì người ta cũng chẳng giải thích được tại sao cũng với hai con mắt vật chất mà người bị Cận Thị, Viễn
Thị, Loạn Thị lại có những cái nhìn khác nhau, khi nhìn vào đối tượng vật chất. Ngay cả ngày hôm nay, vẫn có người cho rằng bị sốt là do Ma Quỷ phá hoại!

Thực tế có lẽ không phải chỉ có 5 loại con Mắt như các tài liệu của Phật Giáo nói chung thường đề cập tới. Nếu mỗi cá thể ở các Cảnh Giới khác nhau, hoặc thậm chí ngay cả ở cùng một Cảnh Giới, đều có những cấu tạo mang tính chất hoàn toàn Chủ Quan, thì có lẽ sẽ có vô lượng loại Đệ Tam Nhãn.

Chúng ta mượn tạm lý thuyết của Trường Phái Phật Giáo để mô tả cấu tạo của một cá thể bất kỳ, ở một Cảnh Giới bất kỳ. Thực Thể là cấu tạo của Tâm, Sắc, Nghiệp Lực, cái Tôi (cái Tôi ở đây được hiểu là Luồng Tâm Thức, Nghiệp Lực, Chủ Thể, người chịu trách nhiệm về các công việc đã làm, sở hữu chủ của
Nghiệp Lực …). Cho dù các cá thể có giống nhau ở một vài khía cạnh nào đó, nhưng không thể nào tuyệt đối hoàn toàn giống nhau. Một bằng chứng khá cụ thể và thực tế là chúng ta không bao giờ thấy hai con người tuyệt đối giống nhau. Nếu chỉ tính tỉ lệ của quá nhiều yếu tố tham dự để cấu tạo nên một cá thể, thì tỉ lệ của các yếu tố này cũng thay đổi từng giây, từng phút. Khoa học hiện đại cho là tính chất không đồng nhất của thời gian, không gian thì mọi vật phải biến đổi: Xung lực, đẳng hướng, năng lượng.

Nếu hiểu như vậy, thì không thể nào có 5 loại nhãn, mà phải bảo là có vô lượng, vô số Con Mắt Thứ Ba.

Tất cả chúng ta đều có đọc về truyền thuyết của các dân tộc. Văn hóa của Trung Quốc có tài liệu Phong Thần, Bát Tiên. Người Tây Phương với các truyền thuyết của Hy Lạp và La Mã. Dường như theo các truyền thuyết này, thì các Thần Linh còn hay đánh nhau hơn cả con người. Do đó, chúng ta có thể đưa đến một kết luận là Đệ Tam Nhãn hiểu theo nghĩa chung chung, hoàn toàn không đồng nghĩa với Chân Lý. Có lẽ chỉ khi tập luyện được Phật Nhãn theo truyền thống Phật Giáo, thì lúc đó chiến tranh mới chấm dứt. Chỉ có Phật Nhãn là hiểu được Sự Thật Khách Quan.
 

- Tam Tiểu Thư: Cuốn Tạp Thư của ông kể ra cũng có nhiều thông tin có một không hai. Tuy nhiên, theo tôi, lối trình bày không biết của ông, hay của cuốn Tạp Thư quá thiên vị Phật Giáo, mang nặng tính chất Chủ Nghĩa duy Phật Giáo, và tôi e là thiếu tính chất Khách Quan.
- Ông Tổng Quản: Ở một chừng mực nào đó, thì ý kiến của cô có phần là đúng đó. Tuy nhiên, xét ở bình diện khác thì chưa hoàn toàn chính xác. Tôi lấy thí dụ: nói đến sức hút của trái đất, của hai vật, thì thực sự chúng ta phải nghĩ tới định luật tương tác hấp dẫn, tất nhiên chúng ta phải liên tưởng ngay tới Newton … Nói tới Hạ Nguyên Tử, nói tới Vật Lý Lượng Tử, chúng ta nghĩ tới Max Planck.

Vấn đề Đệ Tam Nhãn cũng vậy, hiện tại Nhân Loại chưa có một Giả Thuyết, một Lý Thuyết, một Chủ Thuyết nào cả về vấn đề này. Kể cả các tài liệu về Tôn Giáo, cũng không có tài liệu nào trình bày về vấn đề Đệ Tam Nhãn từ A đến Z. Có lẽ Trường Phái Phật Giáo là duy nhất, là có một vài tài liệu, được ghi chép một cách tỉ mỉ, từ lý thuyết đến thực hành, tiến trình trong việc mở Con Mắt Thứ 3. Chính vì lý do này, trong khi chưa có một lý thuyết mới nào có thể thay thế được Lý Thuyết của Trường Phái Phật G
iáo, thì chúng ta buộc lòng phải mượn tạm Lý Thuyết của Trường Phái này. Ðến ngày nào, nếu con người tìm ra được một Lý Thuyết tốt hơn của Trường Phái nói trên, thì dù muốn hay không, Lý Thuyết của trường phái Phật Giáo, chỉ còn mang tính chất lịch sử, dấu ấn của quá khứ.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản à! Theo như lời ông nói, căn cứ vào thông tin của cuốn Tạp Thư, nếu có được Phật Nhãn, thì con người sẽ đạt được hiểu biết tuyệt đối về sự thật của thế giới tự nhiên. Nếu viễn vọng này là một sự thật của ngày mai, tương lai của loài người, thì chỉ còn một mình Tam Tiểu Thư này lẻ loi … và tất nhiên không lấy được chồng … Sài Gòn vắng người không còn kẹt xe, oxygen có thừa để thở, tầng Ozon không còn là một mối lo. Ông Tổng Quản à! Vậy thì trái đất dùng để làm gì? Tôi nhớ người ta thường gọi Sài Gòn là Hòn Ngọc Viễn Ðông. Nếu mai này Sài Gòn không còn người thì gọi là cái gì chứ? 

- Ông Tổng Quản: À! Ðể tôi xem lại thông tin của cuốn Tạp Thư nói thế nào nhé. Đây này cuốn Tạp Thư cho biết là có lẽ con người ta không nên lo lắng nếu xét trên thực tế.

Ðầu tiên, ngoài Lý Thuyết của Trường Phái Phật Giáo về vấn đề Đệ Tam Nhãn, thì cho đến ngày hôm nay, con người chưa hề xây dựng được một Lý Thuyết hoàn chỉnh. Thậm chí là khái niệm về Đệ Tam Nhãn còn chưa có. Tệ hơn thế nữa, người ta còn không biết Đệ Tam Nhãn có thật hay không. Nói một cách khác, người ta hoàn toàn mù tịt về vấn đề này. Cũng có người thì cho là đó chỉ là những phản ứng sinh, lý, hóa, điện … Nhưng sự thật Đệ Tam Nhãn là cái gì thì không ai trả lời được cả. Người ta vẫn sử dụng những công cụ kinh điển để tìm cái không hình, không ảnh. Thí dụ: Tâm, Nghiệp Lực … tất nhiên ai cũng biết, nhưng những công cụ nói trên không thể nào tương thích được những đối tượng mà người ta đang khảo cứu. Mặt khác, tìm đâu ra người thực sự có Đệ Tam Nhãn, làm sao phân biệt được Đệ Tam Nhãn thực sự và
Đệ Tam Nhãn giả tạo. Theo tài liệu Cuốn Tạp Thư, thì ai muốn khảo cứu về vấn đề này, người đó phải có khả năng Nhập Định. Nhập Định là yếu tố Ắt Có và Đủ. Nhưng trên thực tế, dường như không có khoa học gia dương đại nào có khả năng Nhập Định thực sự. Nếu tu Thiền Định theo kiểu các chương trình ti vi hướng dẫn, thì nói theo kiểu Trung Quốc, chỉ là “Cưỡi Ngựa xem hoa”.

Đặt giả thuyết là Khoa Học hiện đại, có một ngày nào đó đột biến tìm ra được một lý thuyết, một chủ thuyết thực sự về vấn đề Đệ Tam Nhãn; thì việc tập luyện mở
Đệ Tam Nhãn cũng là cả một vấn đề. Chúng ta nhớ lại người Trung Quốc thường nói “Non sông dễ đổi, bản tánh khó dời”! Do đó, để thay đổi cấu tạo Tâm của một cá nhân bất kỳ nào đó là một việc vô cùng khó khăn. Buông thả trong các thú vui thì không cần phải học, nhưng tập cái gì đó có tính cách chính quy cũng phải mất cả đời người dù bất cứ ở lãnh vực nào. Thế nên Tam Tiểu Thư ơi, cô hãy yên tâm về âu lo của cô! Sài Gòn chỉ đông thêm, kẹt xe thêm chứ không bớt đâu. Chúng ta hãy để cho trí tưởng tượng làm việc nhé: ngày đó Sài Gòn có một trường chuyên nghiệp nhà nghề để dạy mở Con Mắt Thứ 3, giữa Quận 5 và Quận 1 và quảng cáo dạy miễn phí … cũng chưa chắc đã có ai đăng ký theo học. Con Mắt Thứ 3 và những thú vui thế gian như rượu bia, Nam Nữ, ca hát, chơi bài, sử dụng chất gây nghiện … cái nào chiếm ưu thế? Thực tế chính quyền các nước sử dụng tới hình thức án tử hình cho việc sử dụng buôn bán thuốc phiện, nhưng người ta vẫn làm đó thôi.

Do đó, nếu ai âu lo về tai họa của Đệ Tam Nhãn, thì có thể yên tâm lâu dài.

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!




Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 26

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 26: Ðối Thoại của Ông Tổng Quản & Độc Giả - Phần 2

             - Tình Dục, Giấc Mơ, Bảo Vệ & Phản Biện.
             - Ðọc Kinh & Trì Chú: Thực sự có Chân Ngôn hay không?
             - Vấn đề giữ Giới.


- Cô Tâm Như: Ông Tổng Quản ơi, tôi nghĩ rằng bản năng tình dục thì cũng giống như những bản năng khác thôi. Thí dụ như đói thì cần phải ăn chứ. Nếu đói mà không ăn thì sẽ chết đói. Chuyện tình dục thì cũng thế thôi. Tình dục đúng nghĩa thì nó là sự thăng hoa của tình yêu mà. Nhân gian thường cho là: “Sống mà không có Tình Yêu thì như Chết mà biết Thở.” Nhà thơ Xuân Diệu cũng nói rằng:

“Làm sao sống được mà không Yêu,
Không nhớ, không thương một kẻ nào?"

Tôi nghĩ ông thì trí tuệ cũng hơi bị nhiều, vậy ông có ý kiến gì không? Đừng nói với tôi là nên sống một mình, hoặc cứ sống 2 mình nhưng phải dẹp tình dục qua một bên nha ông. Tôi thì rất thích Tu Thiền Định, nhưng vấn đề là làm cách nào để dập tắt được bản năng này chứ?

- Ông Tổng Quản: Thế này cô nhé, để tránh thái độ chủ quan, chủ nghĩa duy tiêu cực, thì thiết nghĩ rằng nếu chúng ta đã đề cập đến Bản Năng Tình Dục và Giấc Mơ ở góc cạnh tiêu cực, thì nay chúng ta cũng thử đề cập đến góc cạnh tích cực, của hai đề tài nói trên. Cô đồng ý không?

- Cô Tâm Như: Ông Tổng Quản à! Ông có lầm không vậy? Tôi tuy chẳng thâm sâu gì Phật Giáo, nhưng khi đề cập tới giới của Phật Giáo, thì người ta thường hiểu như là mình không nên có những hành động liên quan đến: Sát, Đạo, Dâm … Còn chuyện Giấc Mơ thì ít khi nào có Giấc Mơ đẹp. Phần lớn các Giấc Mơ là vô nghĩa hoặc rất dễ sợ … Nói cách khác là Ác Mộng đó ông.
- Ông Tổng Quản: Có lẽ chính vì hầu hết mọi người, ai cũng nghĩ như cô vừa nói xong; do đó tưởng không phải là thừa, nếu chúng ta chịu khó tìm hiểu nhiều hơn, để có được cái hiểu biết đúng đắn hơn, rất có lợi cho tâm lý mình khi Tu Thiền Định. Chính vì không hiểu rõ nên mình luôn luôn tự trách mình. Chúng ta hay tự trách mình là tại sao tôi lại tồi tệ, xấu xa như thế này? Hoặc tại sao khi người khác tu thì họ rất thanh cao thánh thiện, còn tôi duy nhất là người tội lỗi … nên mình phát sinh mặc cảm tự ti.

Thưa cô Tâm Như!

Tôi muốn cô hiểu được rằng những thành quả vĩ đại, về vật chất cũng như tinh thần mà con người đã đạt được qua chiều dài của lịch sử, là hệ quả của bản năng tình dục được thăng hoa. Khoa Tâm Lý học cho biết hầu hết các nhà bác học, các nghệ sĩ … đều có bản năng tình dục mạnh hơn người thường rất nhiều. Đúng ra phải nói rằng nếu không có tình dục thì sẽ chẳng có gì cả: Nghệ thuật, phát minh … thậm chí không có cả lịch sử con người; vì con người có tồn tại đâu mà có lịch sử. Nói một cách khác, lịch sử con người là con số không nếu không có bản năng tình dục.

Không ai dám khẳng định là con người xuất hiện bắt đầu ở đâu và từ lúc nào trên trái đất này. Nhân chủng học thì cho rằng dường như con người xuất hiện lần đầu tiên ở lục địa Phi Châu; còn theo Kinh Thánh, thì Adam và Eva xuất hiện ở vườn Địa Đàng … Thế nhưng tất cả chỉ là giả thuyết.

- Cô Tâm Như: Ông Tổng Quản ơi, vậy là ông không biết rồi. Tôi nghe nói là con Người tiến lên từ loài Khỉ đó ông ơi. Mỗi lần đi chơi trong khu du lịch Sinh Thái, tôi hay tranh thủ ngắm nhìn mấy con Khỉ và tự hỏi rằng không biết đến thời gian nào thì con những con Khỉ này sẽ tiến lên thành Người đó ông. Mà cũng kỳ lạ thật đó, dường như con Khỉ ngày xưa mới biến thành người được, còn con Khỉ ngày nay chắc không biến ra người được nữa thì phải.
- Ông Tổng Quản: Đúng rồi, thuyết Tiến Hóa thì cho biết con người tiến lên từ loài Linh Trưởng. Tuy nhiên, thuyết này càng ngày càng bộc lộ những yếu kém. Mẹ ruột của lý thuyết Tiến Hóa từng nói “Con có thể là con của loài Khỉ, nhưng Mẹ thì không”. Tài liệu Missing Link đã tiết lộ, chiếc răng mà người ta cho là của một sinh vật đang tiến hóa, giữa Người và Khỉ là ngụy tạo. Chính nhà bác học, tác giả của công trình này đã thú nhận như vậy! Ðến ngày hôm nay, ngoài suy luận bằng lý thuyết thì chẳng có một chứng cứ cụ thể nào, có thể bảo đảm là loài Khỉ là tổ tiên của con người. Chẳng cần phải có một kiến thức quá ư là hàn lâm về Nhân Chủng Học, cô vẫn nhận ra điều này: Nếu lý thuyết Tiến Hóa về tiến trình của con người là đúng, thì chúng ta đã không tìm thấy trong lịch sử cũng như ở hiện tại này, một không gian nào đó, có những tổ tiên loài người đang tiến hóa. Nói cách khác là có một sinh vật nào đó, đang ở trạng thái giữa Người và Khỉ.

- Cô Tâm Như: Chắc ông nói đúng đó. Chính xác nhất thì con người đẻ ra con người. Hành động giao phối; một biểu hiện cụ thể của bản năng tình dục, là hành động cần thiết để xã hội loài người nói riêng và đa số sinh vật nói chung trên hành tinh này tồn tại và phát triển.
- Ông Tổng Quản: Nếu việc giao phối không đưa lại khoái cảm lớn lao, xét về mặt bản năng như là một mục đích, thì chưa chắc sinh vật nào lại chấp nhận việc giao phối, con người cũng chẳng ngoại lệ. Có lẽ nếu có một Thượng Ðế, thì ngài đã phải suy tư mất nhiều ngày nhiều đêm, để tạo ra bản năng này, tạo ra động cơ để con người chấp nhận giao phối.

Chúng ta thử hình dung, nếu một ngày nào đó, Thượng Ðế vì một lý do chủ quan hay khách quan, thí dụ như Thượng Ðế thấy các bệnh truyền nhiễm không thể kiểm soát được, thuốc điều trị HIV Truvada không hiệu quả như lúc thử nghiệm … thì Ngài buộc lòng phải tước đoạt bản năng tình dục của con người. Hệ quả thật tai hại khôn lường. Thiếu tuyến nội tiết của giống đực hoặc giống cái, con người uể oải, yếu đuối, tinh thần cũng như vật chất chẳng muốn làm gì cả … Thế nên việc giao phối chỉ còn là kỷ niệm của dĩ vãng, được người ta kể cho nhau nghe trong tiếc nuối! con người già đi … trẻ em không được sanh ra, bệnh viện Phụ sản Từ Dũ đương nhiên là phải đóng cửa. Bác sĩ, y tá thất nghiệp, các hoạt động xã hội chậm lại từ từ, không điện, không nước, không thực phẩm, không giao thông, xã hội từ từ tê liệt. Thượng Ðế hoặc ai đó có một lương tri lành mạnh, có lẽ không bao giờ mong muốn một kịch bản của xã hội loài người như mô tả ở trên.

Có lẽ nhân loại nên cám ơn Thượng Ðế, đã ban tặng cho con người một quà tặng thật quý giá, đó là bản năng tình dục.

- Cô Tâm Như: Nãy giờ nghe ông nói, tôi thấy cái nhìn của ông có vẻ chịu chơi so với các Thiền Sư khác. Ít có người thầy dạy Tu Thiền chịu nói thẳng thắn về vấn đề này lắm. Theo ý kiến của ông thì bản năng tình dục xấu hay tốt? Chúng ta phải hiểu thế nào về bản năng tình dục?
- Ông Tổng Quản: Có lẽ bản năng tình dục, bản chất chẳng xấu cũng chẳng tốt, mà lệ thuộc ở con người có lương tri, tri thức luận lành mạnh để sử dụng nó. Chắc mọi người còn nhớ, có một tài liệu đã được in tại Việt Nam có nhan đề “Tu mau kẻo trễ”. Ta thử hình dung, một xã hội mà tất cả mọi người đều đi Tu thì xã hội đó sẽ ra sao?

Những tiện ích xã hội: Giao thông vận tải, điện, nước, thực phẩm … nói tóm lại là những nhu yếu phẩm, ai sẽ đứng ra đảm trách? Có một tài liệu thống kê đã đưa ra một xếp hạng từ cao đến thấp về mức độ làm lợi ích cho xã hội. Bảng thống kê này sắp xếp như sau: Sĩ quan quân đội, cảnh sát, điều dưỡng viên … là những người có lợi cho xã hội nhất và đứng đầu bảng. Ngược lại, thầy tu và những cô gái hoạt động trong ngành công nghiệp tình dục là những người không có lợi cho xã hội nhất, được sắp ở thứ hạng 27. Thông tin này chỉ mang tính chất thông tin thuần túy, không có ý định đề cao hay phản bác ai đó.

- Cô Tâm Như: Tôi nghe ông nói, có lẽ cũng giải tỏa được một phần lớn những mặc cảm, những tự ti không có thật. Tôi cảm thấy yên tâm nhiều hơn trên con đường tu đạo. À Ông Tổng Quản ơi! Theo như lời ông nói, thì Giấc Mơ cũng có mặt tích cực của nó, ông có thể trình bày cho tôi nghe được không?
- Ông Tổng Quản: Bình thường ai cũng phải sinh hoạt trong một xã hội nào đó, kể cả người tu. Và xã hội nào cũng có những chuẩn mực quy ước do con người đặt ra hoặc tự hình thành. Vì xã hội buộc mỗi con người phải kiềm chế nhiều ham muốn, nên ý thức của tất cả mọi người chỉ chấp nhận, tiếp nhận một số hiện tượng khách quan mà mình cho là phù hợp. Nó chỉ đi vào khu vực ý thức khi đã được kiểm duyệt, dù trong lúc tỉnh hay trong giấc mơ, nên mỗi cá nhân đã vô tình tích trữ nhiều “dồn nén”. Bình thường thì ý thức con người vẫn thành công trong việc ngăn trở, không cho “những sức mạnh vô thức đen tối” bị dồn nén kia xuất hiện. Chính vì lý do này, những hiện tượng khách quan không được ý thức chấp nhận, trở thành những kẻ vô gia cư, lang thang không biết đi về đâu. Nó phải tự tìm ra một con đường, là đi vào căn phòng kế bên vô ý thức, sống ở đó ngoài vòng kiểm soát của ý thức. Nhưng cư dân ở vô ý thức một ngày một đông, tạo ra áp lực dân số, những cuộc tranh chấp nội tâm, bản chất của sự dồn nén. Ai đó không thể giải quyết được nạn nhân mãn này, thì có thể từ thác loạn tâm lý cho đến trở thành điên. Thượng Ðế cũng khá tinh vi và cẩn thận, đã trang bị cho khu vực này một bộ phận tự xả an toàn, công cụ đó chính là: Giấc Mơ. Theo Phân Tâm Học, Giấc Mơ là một công cụ cần thiết để giải thoát ẩn ức, nếu không có công cụ này thì con người không thể chịu đựng được, khi dồn nén vượt qua một giới hạn nào đó.

Lại một lần nữa chúng ta nên cám ơn Thượng Ðế, đã ban cho chúng ta một công cụ, khả năng nằm mơ.

- Cô Tâm Như: Mỗi ngày tôi Trì Chú Đại Bi 108 biến, khi rảnh tôi xem giáo lý Phật giáo, khi đi tập thể dục hay đi chợ tôi luôn niệm ADIDAPHAT hoặc Trì Chú trong Tâm. Phần này nhờ ông Tổng Quản chỉ dạy thêm, bởi khi tôi Trì Chú hay niệm Phật thì Tâm tôi Thanh Tịnh hơn nhiều so với trước khi Thiền Định. Nhưng theo ông Tổng quản nói là thời Đức Phật không có Tụng Kinh Trì Chú ... vậy thời nay mình có thể làm vậy không? Khi tôi nhổ cỏ thì Tâm tôi đặt nghi vấn: "nó cũng là một chúng sanh, nó cũng có sự sống, vậy thì tôi có sát sinh một sinh linh nhỏ bé không?". Tôi Trì Chú Đại Bi cho các chú Sâu bé nhỏ và các chú Ốc Bưu ... nghe. Không hiểu sao khi tôi muốn mở miệng nói chuyện gì, tôi luôn nói chuyện tốt, lúc đó tôi cũng chưa rõ đó là Bát Chánh Đạo. Tôi nghe hầu hết các bài giảng của Hòa Thượng Tuyên Hóa, càng nghe tôi càng thấm thía, càng thấm nhuần trong Tâm trí tôi, tôi càng thương cho các bạn đồng cảnh ngộ với tôi, vì nơi tôi ở chỉ là tiếng hoa (Taiwan), và bấy giờ đa số họ không biết xử dụng vi tính nên tôi phát Tâm in ấn sách, đĩa CD, VCD mong tất cả các bạn ấy được nghe thấy. Hầu như tất cả mọi nơi đều có sách Phật Giáo bằng tiếng Việt gần nơi tôi cư ngụ, sau đó tôi làm Blog và phát triển phổ biến Giáo Pháp Phật. Sau này mới biết "tu là phải có phương pháp tu, tu cho chính mình, chứ không phải chạy lòng vòng bên ngoài, đó chỉ là lót đường cho việc tu sau này thôi, không phải là giải thoát sanh tử"!

- Ông Tổng Quản: Cô Tâm Như à! Một con người bình thường như cô, như tôi, như quý độc giả, chẳng có ai bẩm sinh là chuyên viên, chuyên gia về bất cứ lãnh vực nào cả. Thật vậy, nếu có khả năng gì hơn người, thì người ta đã gọi là thần đồng … Tuy nhiên, các khảo cứu cho thấy, hy vọng của con người vào thần đồng sẽ có những phát minh có lợi cho nhân loại, là việc không có thực.

Lần đầu tiên tiếp cận với bộ môn nào đó, tất cả chúng ta chỉ là một A ma tơ (Amateur) … vì vậy chúng ta lầm lẫn đủ thứ từ việc chọn môn học ở Ðại Học, chọn mua một cái xe, chọn một cô vợ, một ông chồng … Đối với Tôn Giáo cũng chẳng ngoại lệ. Việc này lại càng nổi bật khi chúng ta tiếp cận với Phật Giáo. Khi có cơ hội nào đó lần đầu tiên trong đời, cầm một tài liệu liên quan tới Phật Giáo, chúng ta mang tâm trạng trân trọng, cho đó là một cuốn kinh, vì thực sự chúng ta cũng chẳng hiểu các tài liệu của Phật Giáo được phân chia hay xếp loại thế nào! Ðối với đại đa số mọi người, cái gì chúng ta cũng gọi là Kinh sách. Ðại thụ Phật Giáo to lớn hơn ta tưởng rất nhiều, không ai dám nói rằng mình đã đọc hết những tài liệu của Phật Giáo. Kể cả đối với một Chuyên Gia, cũng khó phân biệt đâu là Chân Kinh, đâu là Ngụy Kinh! Tài liệu nào khi đọc chúng ta cũng thấy là Phật nói như thế này, nói như thế kia … Tất nhiên với lối viết như vậy chẳng ai dám bình luận gì cả; nhưng thực sự có phải lời của Phật nói hay không thì chẳng ai biết. Các tác giả của các tài liệu này là “Chân Tiểu Nhân hay Ngụy Quân Tử”? Cô Tâm Như cũng như quý độc giả, không ai có thể trả lời được.

Như những bài viết trước của nhóm CTR, những biến thể của đạo Phật bên Trung Quốc không thể kể hết, số tài liệu chồng chéo, Thiên Kinh vạn quyển. Có thể nói những tư tưởng của Phật Giáo rất phổ thông ở tại Việt Nam ngày hôm nay đều bắt nguồn ảnh hưởng của Phật giáo Trung Quốc là chính. Một tài liệu có thể gọi là nền móng của Phật Giáo Đại Thừa là “Ðại Thừa Khởi Tín Luận”, không biết có quá đáng hay không, nếu người ta nói rằng tài liệu này mang đầy màu sắc, tính chất điển hình Trung Quốc. Nổi bật nhất là cách trình bày một vấn đề gì đều nói hàng hai. Xin mời cô Tâm Như và quý độc giả tham khảo.

Cuốn Tạp Thư có kể đến ở tại Việt Nam, có một vị đã viết một cuốn Kinh A Di Ðà, nói theo kiểu báo chí “chuyện khó tin mà có thật”. Vị đó còn đặt tên con của mình là tên của các vị Phật!

Tôi xin đóng góp ý kiến để cô Tâm Như tham khảo. Trong lá thư chia sẻ, cô có đề cập đến: “Phật giáo gọi là tinh khí thần bị suy”. Thưa cô, cùng quý độc giả, đây có thể một trường hợp điển hình của tư tưởng Phật Qiáo Trung Quốc: Luyện Tinh thành Khí, luyện Khí thành Thần. Khái niệm này có thể là một khái niệm dân gian của xã hội Trung Quốc. Cũng rất có thể bắt nguồn từ tư tưởng Đạo Đức Kinh của Lão Tử “Ðạo sanh ra vạn vật, vạn vật ôm khí âm, cõng khí dương”. Sau đó tư tưởng này lại được Việt Nam hóa một lần nữa, người ta quen gọi là lối tu luyện của Đạo Gia. Chúng ta có thể khẳng định rằng khái niệm Tinh Khí Thần hoàn toàn xa lạ với Phật Giáo Nguyên Thủy.

Tất nhiên qua tiến trình của lịch sử, sự thay đổi của địa lý, Phật Giáo cũng phải biến thể để sinh tồn, đó là quy luật khách quan của bất cứ Tôn Giáo nào.

Tôn Giáo nói chung, Phật Giáo nói riêng, hay bị lợi dụng như một liều thuốc phiện xét ở mặt tiêu cực (ai cũng biết mocphin được sử dụng một cách tích cực cho người bị ung thư ở giai đoạn cuối). Thần quyền và thế quyền lẫn lộn trong đời sống chính trị, mượn đạo tạo đời là hiện tượng bình thường của cuộc sống thường ngày. Ðơn giản mà nói, lợi dụng Tôn Giáo, Tín Tâm của các Tín Đồ, với mục đích mưu lợi cá nhân: Tiền tài, của cải vật chất, danh vọng, tình dục … thời đại lịch sử nào cũng có, ở đâu cũng có.

- Cô Tâm Như: Cám ơn Ông đã đóng góp một số ý kiến, làm cho tôi vỡ lẽ hiểu ra một số mặt trái. Ðúng rồi! Tôi không phải là người duy nhất, cũng không phải là người đầu tiên và dĩ nhiên chẳng phải là người cuối cùng đụng phải những rắc rối này. Còn vấn đề Tụng Kinh Trì Chú thì sao ông?
- Ông Tổng Quản: Rất mong cô Tâm Như cũng như quý độc giả, nếu quý vị có thời gian, xin vui lòng hãy đọc lại những bài viết trước của nhóm CTR, đã từng đề cập, tuy không trực tiếp, nhưng khá tỉ mỉ về vấn đề này.

Có lẽ mọi người ít nhất cũng đồng ý với nhau một vấn đề sau đây: Khi Sakya Muni tại thế, thì chỉ có một Sakya Muni, không hề có một vị thứ hai. Sakya Muni là tác giả, là người đã khai sinh, là kiến trúc sư của Trường Phái Phật Giáo. Tứ Diệu Đế, Bát Chánh Đạo, Giới, Định, Huệ … là tác phẩm riêng của Sakya Muni, không có ai cộng tác với Sakya Muni trong việc phát hiện các phát biểu nói trên.

Sakya Muni chỉ có tu Thiền Định suốt cả cuộc đời, thậm chí đến lúc chết. Theo truyền thuyết thì Ngài cũng Nhập Định, không có tài liệu nào cho biết là Sakya Muni đã Tụng Kinh Trì Chú …

Dù có thái độ bi quan nhất, thì người ta cũng cho là dường như có một vị Sakya Muni, đã sáng tác ra một hệ thống tư tưởng mà người thế gian sau này gọi là Phật Giáo. Xét ở góc cạnh Học Thuật, gọi Trường Phái này là một Tôn Giáo thì e là không chính xác, vì Phật Giáo không có giáo điều nào cả.

Có nhiều người cho là lời nói của Phật là Chân Ngôn, là Kinh, là Sự Thật vĩnh cửu. Cái khó cho chúng ta là làm sao biết được chắc chắn là lời nói đó của Phật? Vì sự việc đã xảy ra cách đây nhiều ngàn năm rồi. Các Chuyên Gia cũng chẳng thống nhất với nhau là Sakya Muni thời gian đó nói bằng ngôn ngữ nào. Nhiều trăm năm sau, những tài liệu này lại được dịch qua quá nhiều thứ tiếng, trước khi dịch ra tiếng Việt Nam. Nếu hiểu lịch sử như thế, ai dám khẳng định những lời mà người ta cho rằng đó là lời của Phật nói, có đáng tin cậy hay không? Cũng cần phải ghi nhận thêm, ở tại Ấn Ðộ người ta không ghi lại lịch sử - như quý vị cũng biết - nhiều trăm năm sau không có chữ viết. Ðiều này lại càng làm cho chúng ta e ngại về tính chất trung thực của lời Phật nói.

Hãy thử nhìn vào vấn đề ngôn ngữ của xã hội Việt Nam trong thời gian gần đây, có nhiều từ ngữ đã hoàn toàn biến mất, cũng có những từ ngữ hoàn toàn mới. Như vậy việc trôi qua nhiều ngàn năm, ai dám khẳng định là lời nói nào đó là đích thực của Sakya Muni? Do đó nếu cho là, những lời Phật nói là: Chân Ngôn, Kinh … có đáng tin cậy hay không?

Mời cô Tâm Như cùng quý độc giả tham gia ý kiến.

Cô Tâm Như à! Có lẽ chúng ta nên đặt ra một số vấn đề:

Việc cho lời nói thực sự 100% là của Phật thì nên cân nhắc lại. Nếu không phải là lời nói của Phật thực sự 100%, thì việc gọi là Chân Ngôn, lời nói của Sự Thật, cần phải suy nghĩ lại.
Nếu chúng ta bỏ qua khái niệm tính xác thực về lời nói của Phật, mà chỉ dùng những lời nói này là một Đối Tượng để Quán Tưởng, thì vấn đề lại hoàn toàn khác. Thật vậy, chúng ta có thể xây dựng lên một đối tượng bất kỳ nào đó, với những cấu tạo Tâm là Thiện Tâm, mang tính chất Phật Tính, thì hoàn toàn thuận lợi.
Tụng Niệm Trì Chú với hiểu biết Chân Chánh, thì chúng ta đã tạo dựng được một Mandala. Vô tình chúng ta đã sử dụng cách tu tập của các tu sĩ Tây Tạng. Mandala là một sáng tác của con người, nếu người Trung Quốc đã làm ra sẵn, thì chúng ta chỉ việc sử dụng, đỡ mất công để sáng tác ra Đàn Pháp.

- Cô Tâm Như: Lúc bấy giờ tôi giữ giới tuyệt vời, dù trong mơ có thấy sinh vật bé tí tôi cũng nhặt mang đi phóng sanh, có khi thấy trong mơ ăn thịt chúng sinh, khi tỉnh dậy lòng buồn vời vợi và luôn tự trách mình. Tôi tu tại gia nhưng cũng có người này người kia mang đồ cho (giống Cúng Dường vậy), nhưng trong thâm Tâm tôi nghĩ: "bản thân cần làm Phước nhiều hơn, sao lại nhận của người khác? Tiêu Phước thì hết Phước, nhưng ngặt nỗi đó là do người ta cảm thấy mến mình, nên tặng cho mình nào tiền của vật chất, ... nhưng tôi sợ nhận của lắm, tôi gởi cả về VN làm Phước dùm họ (in ấn sách Phật Giáo, Kinh điển ...).

Cũng thời gian này, khi tôi nhìn vào không gian thì thấy những hạt li ti màu trắng sau này mới biết đó là hạt Hằng Sa, nhìn vào ngọn lửa của cây đèn cầy thì thấy có một hình vòng tròn dạng elip, trong cái elip đó có một tu sĩ đầu trọc, nhưng bây giờ không có những hiện tượng đó nữa.


- Ông Tổng Quản: Về vấn đề Giới là gì, giữ Giới ra sao, nếu Cô Tâm Như cũng như quý độc giả có hứng thú, xin vui lòng tham khảo tài liệu “Thanh Tịnh Đạo Luận”, của tác giả Buddhaghosa được viết khoảng một ngàn năm sau khi Đức Phật nhập Niết Bàn. Về vấn đề Giới, cuốn Tạp Thư lại có những thông tin khá khác biệt. Theo tài liệu này thì Giới bắt nguồn từ kinh nghiệm thực tế tu Thiền Định của người tu Thiền Thực Chứng, bất cứ là ai, ở đâu, vào thời điểm nào … đều chứng được các Cảnh Giới. Do chứng nghiệm thực tế về các Cảnh Giới, người tu Thiền mới đưa ra các Giới.

Nguồn gốc của Giới là gì? Chúng ta biết rằng các Cảnh Giới bất kỳ có những hành vi, ứng xử, phong tục, tập quán, lề lối sinh hoạt đặc trưng của Cảnh Giới đó. Lấy thí dụ cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc. Ở cảnh giới này không có Bản Tánh Sắc (không có giới tính là Nam hay Nữ). Do đó, nếu người tu Thiền Định, có ý định tương ứng với cảnh giới Sơ Thiền Hữu Sắc, thì phải tập cách sinh hoạt của Cảnh Giới này, là không có Bản Tánh Sắc, quan hệ Nam Nữ phải chấm dứt.

Tại cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc, các Thực Thể không phải ăn uống để sinh tồn. Khái niệm về "Đoàn Thực" không giống như cảnh Dục Giới chúng ta. Mạng Căn của Cảnh Giới này là cái vui chứ không phải là thực phẩm. Do đó ở cảnh giới này không có miệng và mũi để hấp thụ dưỡng chất, là đồ ăn và không khí. Muốn tương thích với cảnh giới này, thì phải bỏ việc ăn thịt, uống rượu. Việc ăn thịt, uống rượu là bình thường của cảnh thế gian Dục Giới, nhưng ngược lại với cách sinh hoạt ở cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc.

Mặt khác, việc ăn uống rượu thịt không tương thích với cấu tạo Tâm của cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc, chứ chưa nói tới những Cảnh Giới cao hơn nữa. Sát sanh là do Tâm Tham và Tâm Sân, có cơ sở là Tâm Si, câu hữu với tà kiến, là hiểu sự việc không đúng với sự thật. Những Tâm vừa kể trên, là những Bất Thiện Tâm hoàn toàn không tương thích không phù hợp với cảnh Sơ Thiền Hữu Sắc. Sơ Thiền Hữu Sắc được cấu tạo bởi những Tâm Thiền Thiện Tâm. Do đó, nếu cho rằng uống rượu, ăn thịt và sát sanh … mà đắc được Sơ Thiền Hữu Sắc, là hoàn toàn phi lý với quan điểm của Phật Giáo.

Giới là quyền lợi tối thượng của người tu Thiền Định.

Chúng ta không thể có hạnh phúc trên sự đau đớn của các Chúng Sanh khác do bị sát hại. Chúng ta không thể nhân danh bất cứ cái gì - nhất là Đạo Đức - để giết hại các Chúng Sanh. Ðây là quan điểm của một số Tôn Giáo có thể là lạc hậu, với tục lệ dùng các Sinh Vật như Của Lễ để Tế Thần.

Có lẽ thà là “Chân Tiểu Nhân", còn hơn là "Ngụy Quân Tử”.

- Cô Tâm Như: Chắc tôi cần rất nhiều thời gian để suy nghĩ về những điều ông nói, các thông tin từ cuốn Tạp Thư của ông.

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!