Pages

Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 6

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 6: Gặp Phật, Chúa, Thánh Thần 
           dưới góc nhìn của Phân Tâm Học


Một ngày mới lại bắt đầu. Mặt trời từ từ ló dạng qua các đám mây. Trong không gian tĩnh lặng, tiếng chim rừng và tiếng suối róc rách chảy xa xa vang vọng lại. Cuộc hành trình của đoàn Bảo Tiêu thuộc dòng họ Xuyên Vân Kiếm Pháp lại tiếp tục. Những gian nan trên con đường thiên lý đang chờ đợi họ ở phía trước: Đèo dốc cheo leo, gió bụi và cả những hiểm nguy tiềm tàng trong sự bình lặng của thiên nhiên.

- Tam Tiểu Thư (lên tiếng, phá tan sự tịch mịch của núi rừng): Ông tổng quản ơi, bữa trước ông hứa với tôi là sẽ trình bày tiếp cho tôi nghe về con mắt thứ ba đó. Để tôi nhớ lại xem mình đã nói tới đâu rồi nhỉ? À ông ơi, tôi nhớ ra rồi. Hôm trước mình đã phân tích về chuyện, người ta thường nhìn thấy các vị chức sắc của các tôn giáo như là: Mẹ Quan Âm, mẹ Maria, Phật Chuẩn Đề, Thánh Allad … dưới góc nhìn của Vi diệu pháp. Hôm nay ông xem thử cuốn Tạp Thư nói gì về vấn đề này dưới góc nhìn của các bộ môn phân tâm học và Tâm thần học đi. Nói thiệt với ông, chứ mấy bộ môn này tôi có được học chút đỉnh nên hy vọng tôi sẽ hiểu dễ dàng hơn chút ít. Vi Diệu Pháp đúng là vi diệu nên khó hiểu quá ông ơi.

- Ông Tổng Quản: Nhớ rồi nhớ rồi, làm sao mà quên chuyện cô hỏi được chứ. Tam Tiểu Thư ơi, tôi xem rất kỹ cuốn Tạp Thư nói gì về vấn đề này suốt đêm qua đó. Trước nhất, tôi xin lỗi Tam Tiểu Thư và quí độc giả là những nhà Khoa học, Tôn giáo. Những vấn đề mà tôi đọc được trong cuốn Tạp Thư chỉ là ý kiến riêng của bộ môn Tâm thần học, Phân tâm học và có tính cá nhân. Do đó, không có giá trị xét ở bất cứ mặt nào. Những điều trình bày này không có ý định đề cao hoặc làm mất giá trị của bất cứ cái gì. Rất mong được quí độc giả rộng lượng thông cảm.

Sexting là một từ ngữ rất phổ biến cho những người sử dụng Anh ngữ. Nó là từ ghép của 2 chữ: Sex và texting; từ ngữ này có ý nghĩa là gởi những thông tin, những tấm hình mà người ta cho là có tính chất khiêu dâm; chủ yếu là qua việc nhắn tin điện thoại.


Tuy nhiên, khi người ta thực hiện những cuộc phỏng vấn để thăm dò xem công chúng nghĩ gì về vấn đề này; thì kết quả cho thấy có một số đối tượng ở độ tuổi nào đó, coi sự việc này là hết sức bình thường, chẳng có gì là khiêu dâm cả. Hiện tượng này, làm cho người ta phải cân nhắc lại quan điểm về sex của mình. Sexting là một hiện tượng mang tính chất thời sự của thập kỷ chúng ta đang sống. Do đó, khi đọc phần trình bày sau đây, rất mong quí độc giả có thể nhìn thấy góc cạnh tích cực của Chủ thuyết Phân tâm học, Tâm thần học. Biết đâu có ai đó, lại phát hiện ra tính chất Thẩm mỹ đầy màu sắc, rực rỡ của bộ môn này.

Thật sự mà nói, đã là con người, có lẽ đã mang tội Tổ Tông, chúng ta phải đồng hành với những mặc cảm nổi tiếng của Phân tâm học: Oedipe, Electre, mặc cảm thiến hoạn (castration), mặc cảm gia đình, mặc cảm tự ti, mặc cảm tự tôn … Chúng ta phải đồng hành với nó từ cái nôi của mình cho đến địa điểm cuối cùng của cuộc đời là nấm mồ. Bộ môn Tâm thần học liệt kê ra những dạng bệnh tâm lý như:

Arythmomanie: Bệnh thích đếm các con số.
Monomanie: Thích đốt lửa.
Onomatomanie: Bệnh thích nhắc đi nhắc lại một chữ hay một cái tên.
Kleptomanie: Bệnh ăn cắp.
Dipsomanie: Bệnh thích uống nước.
….

Nếu chúng ta chịu khó quan sát những người xung quanh, hoặc giả đôi khi là quan sát chính mình, thì chúng ta có thể cũng vướng phải những loại tâm bệnh vừa kể trên. Tâm bệnh này có rất nhiều loại, khá phổ thông, ở bất cứ thời đại nào và bất cứ nơi đâu.

- Tam tiểu Thư (phá lên cười): Ông Tổng Quản ơi, tôi hay nói câu: "có một không hai, có hai chết liền …". Vậy tôi chắc cũng có tâm bệnh này quá.
- Tổng Quản: Ừ! không chừng là vậy đó.

Đoàn người của Xuyên vân tiêu cục cười vang cả cánh rừng.

- Tổng Quản: Trước khi trình bày về thắc mắc mà Tam tiểu Thư đặt ra, tôi sẽ giới thiệu một bức tranh sơ bộ mang tính chất toàn cảnh của bộ môn này để cô có khái niệm. Tâm thần học, Phân tâm học, được con người biết đến khoảng một thế kỷ nay với rất nhiều tên tuổi nổi danh: Sigmund Freud, Alfred Adler, Otto Rank, Erich Fromm, Karen Horney …

Trên thực tế, lý thuyết của Sigmund Freud có lẽ là nổi bật nhất, vì nó mang tính chất thực tiễn và hữu hiệu trong công việc chữa trị. Ông được mệnh danh là cha đẻ của khoa Tâm Lý Học và Sinh Học về tinh thần của con người, một khoa học Vi tâm lý. Bộ môn này có thể hoàn toàn hiểu được, và có thể ứng dụng vào thực tiễn của tất cả các ngành Y Khoa. Mọi người đều có thể tiếp cận, bác sĩ cũng như công chúng. Bệnh tật chính là đối tượng quan trọng nhất của người hành nghề y.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản ơi, ông có thể giải thích cụ thể là tại sao cái lý thuyết của ông Sigmund Freud này, lại có ảnh hưởng đến mấy ông Bác sĩ và bệnh nhân nhiều như thế? Xem ra cuốn Tạp Thư này chứa nhiều thông tin rắc rối thiệt đó. Cực kỳ khó hiểu lại cực kỳ trừu tượng.

- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à, cô nói đúng đấy. Tuy nhiên, đây là một bộ môn phải gọi là một thứ Vi Diệu Pháp của Tâm lý học Tây phương. Nó cũng cao siêu và phức tạp nên không nằm trong tầm tay của đa số con người. Rất có thể nhiều người sống cả đời, thậm chí cho đến ngày chết cũng chưa từng nghe nói đến bộ môn này dù chỉ một lần. Thực tế cô thử nhìn tại Việt Nam ngày hôm nay. Tôi đi qua nhiều đường phố ở Sài Gòn, không hề thấy phòng mạch của Bác Sĩ Tâm Thần. Còn tại các quốc gia tiên tiến như nước Mỹ, mỗi lần đi khám bệnh tâm thần phải trả tiền khá nhiều đó.

Bây giờ tôi nói cô nghe thế này nhé: Tam Tiểu Thư có biết tác giả Alexandra David Néel không? Đó là một nữ Học Giả người Pháp, nhiều năm khảo cứu và tu Mật Giáo tại Tây Tạng. Điều làm tôi rất ngạc nhiên là theo học giả người Pháp này, thì những tu sĩ Tây Tạng nhập thất, họ không hề có tư chất thông minh suất sắc. Nguyên tắc tu tập của họ là họ có quyền tự do chọn lựa thầy cũng như phương cách tu tập. Đặc tánh của nền văn hóa Tây Tạng là sự tự do, chứ không gò bó như người ta thường lầm tưởng. Mặc dù cách tu tập khác nhau, nhưng về bản chất thì lại giống nhau. Họ thường tập trung tư tưởng cao độ, Quán Tưởng liên tục về một đối tượng nào đó; thí dụ một vòng tròn gọi là Kyil khor. Vòng tròn này có rất nhiều kiểu, nhưng tựu trung lại cũng là vòng tròn. Trong vòng tròn này có một nhân vật nào đó và đoàn tùy tùng, tất cả chỉ mang tính chất tượng trưng. Thí dụ: một vị Bồ Tát, một Nữ Thánh, các Chư Thiên, các Lạt Ma, những nhân vật này được mô hình như những Kim Tự Tháp. Phổ thông nhất là ở giữa vòng tròn có một vị Nữ Thần và đoàn tùy tùng.


- Tam Tiểu Thư: Ồ! Ông Tổng Quản ơi, ông nói đúng. Chính tôi đã thấy hình những vòng tròn này trong các am thất của các vị tu sĩ Tây Tạng trong lần viếng thăm Dharamsala, còn gọi là little Lhasa, Thủ phủ của Tây Tạng lưu vong bên Ấn Độ đó. Ấn tượng lắm.

- Tổng Quản: Ừ! Nhưng cũng có vị tập Quán Tưởng mà không có vòng tròn nào cả, chỉ có một vị Nữ Thần thôi. Đầu tiên họ tưởng tượng có một vị Nữ Thần, sau đó là nhiều Nữ Thần, và cuối cùng những Nữ Thần này biến mất từ từ, chỉ để lại một điểm sáng, có khi lại là một điểm tối. Điểm này xuất, nhập vào luân xa ở giữa hai chân mày. Ngoài ra cũng có những cách tập khác. Với cách này người tập phải vượt qua nhiều gian lao trở ngại, nhiều khó khăn nguy hiểm, không thể kể hết những chông gai mà họ phải trải qua. Cuối cùng họ đến một lâu đài, rực rỡ nguy nga, họ gặp một vị Nữ Thần, là vua của các Nữ Thần, gọi là Nữ Vương. Hành giả giao phối với vị Nữ Vương và coi như vậy là đã thành công.

- Tam Tiểu Thư (tròn mắt ngạc nhiên): Ông nói sao chứ? Là họ có quan hệ về sex sao?
- Tổng Quản (mỉm cười): Tam Tiểu Thư và quí độc giả thân mến, chắc chắn khi đọc tới đây quí vị sẽ vô cùng thắc mắc và tự hỏi, làm sao mà có thể có những người sống một mình trong những hang động heo hút, ngoài trời thì lạnh lẽo tuyết băng? Suy nghĩ này hoàn toàn hợp lý. Thật vậy, thực tế cho biết những người vì lý do gì đó, thí dụ như người sống sót sau đắm tàu, rớt máy bay lạc vào những quần đảo hay cánh rừng hoang vắng; những người ở tù cũng vậy. Nếu sống một mình lâu ngày, đi ngược lại bản năng xã hội, thì thường trở nên ngu đần, ngớ ngẩn. Thế mà những tu sĩ Tây Tạng, họ tự nguyện sống trong các hang động, tịnh thất một mình, chẳng ai ép buộc cả. Không phải họ sống như vậy một vài tuần hay vài tháng, mà họ có thể sống như vậy nhiều năm; nhiều người sống cho đến chết luôn đó.

- Tam Tiểu Thư: À! đúng đó ông. Tôi đã có lần leo lên một triền núi ở Ấn Độ để thăm viếng và cúng dường các vị Tu sĩ Tây Tạng này. Tôi thấy họ rất dễ thương, bình thản, vẻ mặt hiền hòa. Vị mà tôi có dịp yết kiến đó nói rằng ông đã ở trong tịnh thất này 17 năm rồi, từ ngày còn rất trẻ. Tôi thấy họ chả bị ngu đần hay ngớ ngẩn gì như ông nói cả. Thật tình tôi rất khâm phục họ và thắc mắc, không hiểu họ tu như thế nào mà hay như vậy. Cuốn tạp thư có giải thích rõ về việc này không ông?

- Tổng Quản: Có một đoạn trong cuốn Tạp Thư viết về chuyện này. Rất có thể đây là đáp án chính xác đó cô: Tu sĩ Tây Tạng (giới tính là nam) Quán Tưởng các Dakini hay là Yidam, là những vị Nữ Thần. Họ quán tưởng bằng cách là nhớ nằm lòng hình dáng, sắc diện, cử chỉ, quần áo và trang sức; nói chung là tất cả những gì thuộc về tính chất của vị Nữ Thần này. Việc Quán Tưởng này kéo dài từ nhiều tháng, đến nhiều và rất nhiều năm, cho đến khi nào vị Nữ Thần này xuất hiện như một người bằng xương bằng thịt bình thường. Đến giai đoạn này, người tu sĩ coi như đã thành công. Vị nữ thần này sẽ dạy bảo những Bí Pháp để tu hành. Tu sĩ nói chung, bằng lòng với thành quả này, chấp nhận ở lại Cảnh Giới này để hưởng thành quả của Thiền Định.

- Tam Tiểu Thư: Ồ! Hay quá ông, nghe tạp thư nói vậy, tôi thích đi lên núi tu quá!
- Tổng Quản: Ở bên trời Âu, chúng ta được biết đến tác phẩm:

"The Complete Works Of St. Teresa Of Jesus". Cuốn này đã được người ta dịch ra tiếng Việt Nam với tựa đề: "Tiểu sử tự thuật của Thánh Nữ Têrêsa Avila". Theo lời tự thuật trong cuốn sách, thì Thánh Nữ đã đi tu năm khoảng 14 tuổi. Tôi trích dẫn cho Tam Tiểu Thư nghe nhé:

"Người đề cập đến những đại hồng ân Chúa đã ban cho người và lần đầu tiên Chúa hiện ra với Người. Người trình bày bản chất của thị kiến hình ảnh, những hậu quả và những dấu hiệu chính yếu của thị kiến do Chúa chủ động." Tác giả cho biết, "... một hôm trong khi tôi đang cầu nguyện Chúa cho tôi trông thấy đôi bàn tay của người. Ôi bàn tay tuyệt vời không thể diễn tả được hết. Ngày sau, tôi lại được thấy dung nhan thần linh của Chúa, cuối cùng người cho thấy trọn vẹn. Chỉ nguyên vẻ mỹ lệ và màu trắng của bàn tay ấy, vượt qua những gì trí tưởng tượng có thể nghĩ tới được. Trong vòng hai năm rưỡi Chúa thường xuyên ban cho tôi thị kiến này. Tôi khao khát thấy Chúa đến chết đi được và thật vô phương tìm được sự sống đó chỉ trừ qua cái Chết. Tình yêu này bốc cháy mãnh liệt. Không ngôn ngữ nào có đủ khả năng diễn tả cách thức Thiên Chúa gây thương tích. Tuy nhiên nỗi đau đớn này lại cực kỳ khoái sản. Chọn cuộc sống này không thể gặp được niềm vui nào có thể làm mãn nguyện hơn. Nỗi đau đớn hòa trong niềm hoan hỉ làm tôi ngây ngất. Tôi thấy Thiên Thần lấy hình người, tay cầm một cây giáo bằng vàng, nơi đầu mũi giáo bằng sắt, tôi trông thấy hình như có lửa. Dường như ngài đâm mũi sắt vào tim tôi mấy lần, thấu tận tạng phủ tôi. Khi ngài rút ra, tôi cảm thấy như ngài rút cả tâm can tôi ra theo, bấy giờ tôi bừng cháy lửa yêu mến Chúa. Nỗi đau đớn này, sắc bén đến nỗi tôi phải thốt ra tiếng rên rỉ mấy lần. Những nỗi đau đớn mãnh liệt này lại gây cho tôi sự ngọt ngào quá lớn lao".
 

Chúng ta vừa có cơ hội để quan sát hai trường hợp điển hình, được ghi chép qua sách vở ở Đông phương cũng như Tây phương. Phần nhận xét ý kiến, xin dành cho quý độc giả.

Chúng ta lại quay về với bộ môn Phân tâm học và Tâm thần học. Qua thời gian tất nhiên bộ môn Phân tâm học cũng phải biến thể là việc tất yếu. Tuy nhiên, lý thuyết về sự dồn nén (la théorie du refoulement) vẫn là hạ tầng cơ sở vững chắc để cho tòa kiến trúc Phân tâm học phát triển. Nguyên lý của sự dồn nén khá đơn giản. Đó chỉ là việc vứt bỏ đi một số vấn đề, một số yếu tố ra khỏi Ỷ thức của con người.

- Tam Tiểu Thư: Ông nói rõ thêm cho tôi nghe với. Tôi sống hoài mà có thấy dồn nén chỗ nào đâu. Dồn nén là gì chứ?
- Tổng Quản: Sự dồn nén là hệ quả của cuộc tranh chấp nội tâm liên tục và mãnh liệt giữa những thôi thúc của bản năng, bản năng bảo tồn, bản năng xã hội, bản năng sinh sản, đặc biệt nhất là bản năng tình dục, hay nói đúng hơn là khát vọng tình dục (desirs sexuels). Tuy nhiên có những tác giả lại chống lại quan niệm mang nặng tính chất Libido của Freud. Con người phải đương đầu với những giá trị đạo đức mà xã hội nào đó đã quy ước, ở một nơi nào đó và vào một thời điểm lịch sử nào đó. Có rất nhiều rào cản khát vọng tự nhiên của con người: Thẩm mỹ, luật pháp, phong tục. Thật vậy, sự không tương thích giữa khát vọng cá nhân và những luật lệ của xã hội đã đưa đến cuộc tranh chấp khốc liệt. Cá nhân với những bản năng, những mặc cảm đã bị xã hội đè bẹp. Chính vì vậy mà xảy ra sự dồn nén đó Tam Tiểu Thư.

- Tam tiểu Thư: À! tôi dần dần hiểu được những gì ông nói đó. Nhưng theo tôi nghĩ, thì mình là con người có suy nghĩ, có nhận thức mà; người ta phải tìm cách nào để xử lý vấn đề này chứ. Nếu mình cứ bị dồn nén hoài như vậy, thì mình bị khùng làm sao?

- Tổng Quản: Cô nói rất chính xác. Những khát vọng này không giải quyết được trong đời sống, thì nó chỉ còn cách là phải tìm ra những lối thoát khác. Phân tâm học gọi đó là Giải Thoát Ẩn Ức.

- Tam Tiểu Thư: Ông nói rõ thêm đi, giải thoát bằng cách nào đây?

- Tổng Quản: Phân tâm học cho biết, cách mà người ta dùng để giải thoát những ẩn ức này được gọi là "thỏa mãn bằng sự thay thế" (satisfactions de substitution). Theo tác giả Alfred Adler thì con người luôn luôn vươn tới mục đích hoàn thiện chính mình. Do nguồn gốc con người có những mặc cảm tự ti sâu thẳm, đó là những tình cảm bị dằn vặt bởi sự bất lực và mặc cảm tự ti. Nếu không thỏa mãn được điều này thì đời sống không thể chịu đựng nổi. Chúng ta có khuynh hướng bẩm sinh là muốn trung hòa những khuyết điểm của mình. Và để trung hòa những mặc cảm tự ti, con người tìm đến những chiến thuật một cách tính toán, để gia tăng sự giàu có nội tâm và giá trị cá nhân.

Việc sanh ra là con người cũng đồng nghĩa với việc sống chung với những mặc cảm tự ti. Con người luôn luôn tìm cách để chiến thắng chính mình, khát vọng vươn đến một cái gì đó vĩ đại, đầy sức mạnh, và vượt qua những kẻ khác. Do tâm lý này, chúng ta có thể dễ dàng hiểu được tại sao con người dễ rơi vào trạng thái không bình thường; dễ nhìn thấy những gì mình mơ ước hơn là thấy được sự thật.

Tác giả Otto Rank đầu tiên là một môn đồ của Freud, sau đó ông cắt đứt vĩnh viễn với thầy của mình. Theo tác giả này thì vết thương đau đớn nhất là sự sanh ra đời. Đời sống hạnh phúc nhất chính là khi còn nằm trong bụng mẹ. Đây là một quan điểm quan trọng. Đời sống ở trong tử cung của người mẹ là một dĩ vãng mà con người luôn luôn ghi nhớ. Nỗi hoài hương thúc đẩy họ làm cách này hay cách khác; bằng mọi cách có thể, để vãn hồi tình trạng ở trong bụng mẹ. Đời sống trong bụng mẹ là một thiên đường, việc sanh ra đời đến trái đất, có nghĩa là bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng. Con người đã đánh mất vườn điạ đàng khi cất tiếng khóc chào đời. Việc sanh ra đời đã tạo ra một cú sốc mạnh mẽ đối với một cơ thể thiếu những trang thiết bị để tự vệ.

Người bị bệnh tâm thần là ai? chẳng qua đó là những kẻ không thắng nỗi cú sốc khủng khiếp này. Những hình tượng, đặc biệt là phụ nữ mà người ta mơ tưởng quay trở về chính là đại diện cho thiên đường đã đánh mất. Nguồn gốc của sự khủng khiếp, của sự sợ hãi đó là hiện tượng rất cơ bản của tâm lý con người. Tùy từng tác giả, mà việc đưa ra các nguồn gốc của sợ hãi và khủng khiếp có khác biệt. Con người tìm cách tính toán, tìm một chiến thuật giả tạo để đánh lừa mình và đánh lừa kẻ khác, họ rất cần một cái khiên để che chở trước các đe dọa bằng cách tưởng tượng ra những đối tượng. Những đối tượng này có thể là tôn giáo, quyền lực hoặc là sự giàu có.

- Tam Tiểu Thư: Tôi nghe đến đây thực sự là chóng mặt, ù tai rồi. Chắc tôi phải dành ra chút thì giờ để suy nghĩ lại. Nhưng ông tổng quản ơi, nếu mà cứ nói mãi như thế này, thì thực tế tôi cũng chẳng học được cái gì cả. Bây giờ nếu tôi muốn có con mắt thứ ba, thì thực tế tôi phải làm sao? Chứ nghe mãi như thế này, thì có giải quyết được cái gì đâu. Tôi đồng ý với ông là lý thuyết rất cần, nhưng có thể vừa học lý thuyết như những điều Cuốn Tạp Thư cho chúng ta biết đó, đồng thời ông ráng xem giúp tôi là Cuốn Tạp Thư nói việc thực hành để mở con mắt thứ ba như thế nào. Nếu cứ tiếp tục nghe cái kho lý thuyết của ông, thì chắc đến già tôi cũng chỉ có hai con mắt, chẳng bao giờ mở được con mắt thứ ba cả!

- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à! Cô nói cũng đúng, nhưng chưa đúng hẳn. Cô cứ suy nghĩ mà xem, nếu việc mở con mắt thứ ba là dễ dàng, thì tại sao không có một tài liệu nào suốt trong chiều dài lịch sử 30, 40 thế kỷ của nhân loại được phát hiện. Đến tận ngày hôm nay, chúng ta chỉ thấy có hai tác giả Lobsang Rampa và Barbara Ann Brennan có tài liệu trình bày về vấn đề này. Tuy nhiên nếu xem kỹ thì người ta lại thấy chẳng có gì để học hỏi cả. Đồng ý rằng tác giả Barbara Ann Brennan có trình bày một cách khoa học và kỹ lưỡng về cách mở con mắt thứ ba, nhưng chính tác giả lại cho rằng mở con mắt thứ ba để nhìn thấy hào quang. Theo Cuốn Tạp Thư thì như thế có lẽ không phải là con mắt thứ ba đâu.

- Tam Tiểu Thư: Tại sao thấy hào quang lại không phải do mở con mắt thứ ba? vậy thấy hào quang là do cái gì ông tổng quản?
- Tổng Quản: Bởi vì những màu sắc của hào quang mà nhiều người nhìn thấy đó, là ở trong tần số khả kiến của thị giác. Hiệu ứng Kirlan tình cờ được phát hiện do nhà bác học người Nga. Vật lý học phổ thông thì giải thích hiệu ứng này khá đơn giản. Một vật dẫn điện bất kỳ ở trong một môi trường điện cao thế thì bức xạ điện từ, làm ion hóa môi trường không khí xung quanh. Khi một Eletron rời bỏ quỹ đạo vốn có của mình, thì để lại một Photon, do đó chúng ta nhìn thấy ánh sáng, tạo ra hào quang mà người ta nhìn thấy. Hiện tượng này có thể thấy ở những tụ điện cao thế. Giải thích này cũng làm cho người ta trở nên lúng túng.

Thực sự ngày hôm nay người ta đã chụp được hào quang (Aura). Rất mong quý độc giả nào kinh nghiệm được chuyện hào quang này đóng góp thêm thông tin. Mặc khác chính tác giả Barbara Ann Brennen lại cho biết là bà chỉ tình cờ, ngẫu nhiên nhìn thấy như thế mà thôi, hay nói chính xác hơn con mắt thứ ba được mở một cách tình cờ, không do một sự tập luyện nào cả. Bà còn cho biết có một người mà bà gọi là "một làn gió thoảng ở Kenya" đã giúp bà có những khả năng để bà thực hiện việc làm thầy chữa.

Với tác giả Lobsang Rampa thì có hẳn một tác phẩm mang tên Đệ Tam Nhãn. Tên tác phẩm này quá lôi cuốn, nên những ai quan tâm đến vấn đề này đều có đọc qua. Nhưng khi bàn về kỹ thuật mở con mắt thứ ba, thì ông lại cho biết đó là bí mật, thành ra có cũng như không! Với tác phẩm You For Ever cùng một tác giả, ông lại trình bày cách tập mở nhãn là nhìn vào một viên pha lê như các thầy bói ở Tây phương hay sử dụng. Không nói quí vị cũng thấy, chúng ta cũng chẳng có gì để học hỏi.

Rõ ràng vấn đề này cho đến ngày hôm nay chưa hề có câu trả lời, chưa có một tài liệu nào tiết lộ kỹ thuật mở con mắt thứ ba, dù chỉ là những chi tiết nhỏ nhất. Tam Tiểu Thư ơi, nếu cô không tin điều tôi nói, thì cứ mở ipad và hỏi Master Google nhe cô. Nếu tìm thấy thông tin gì lạc quan thì cô nhớ chia sẻ cho tôi và mọi người với nhé.

Nắng đã lên cao, trời không chút gió, cây cối đứng im lìm. Không gian chỉ toàn một màu nắng. Tam Tiểu Thư rút khăn vừa lau vài giọt mồ hôi trên trán, vừa nói: Ông tổng quản ơi, mệt quá à. Mình tìm chỗ nghỉ chân đi, phía trước khoảng vài chục mét có một dòng suối đó. Mình ghé rửa mặt và uống nước cho mát mẻ chút nhe. Rồi khi ông khỏe, ông tiếp tục kể tôi nghe về con mắt thứ ba bí ẩn này nha ông. Ước gì tôi mở được con mắt thứ ba này, tôi sẽ bỏ nghề bảo tiêu liền đó, làm thày bói có lý hơn phải không ông?

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR


Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!



Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 5

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 5: Gặp Phật, Chúa, Thánh Thần 
           dưới góc nhìn của Vi Diệu Pháp

Cõi tôi, cõi nát, cõi tàn,
Cõi hoang mang, vội, cõi bàng hoàng, qua,
Cõi vui thân thể cỗi già
,
Cõi lang thang mượn mái nhà hư không
,
(Cõi tôi - Du Tử lê)

Trời tối đen, gió lồng lộng. Trong quán trọ ở một huyện lẻ heo hút, ông tổng quản và Tam tiểu Thư sau khi dùng cơm tối, cùng ngồi trò chuyện về câu chuyện dang dở lúc trước.

- Tam Tiểu Thư: Tổng quản ơi, ông có mệt không? Tôi không có cuốn tạp thư, cũng không có mắt thứ ba, nhưng tôi biết Võ lâm Quán này có một loại trà nổi tiếng lắm, đó là trà Long Tỉnh đó ông. Tôi gọi trà cho ông uống nhé, rồi ông kể chuyện tiếp cho tôi nghe được không?

Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 4

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 4: Chìa khóa mở cánh cửa bí mật của con mắt thứ ba

Trời còn để có hôm nay,
Tan sương đầu ngõ, vén mây giữa trời.
(Kiều - Nguyễn Du) 


Trời đã về chiều, một dải mây dài lơ lửng bay ngang vòm trời xanh tĩnh lặng. Một cơn gió ào qua cánh rừng, qua mái tóc của Tam Tiểu Thư. Không khí mát mẻ. Tam Tiểu Thư và Ông Tổng Quản vừa đi vừa trò chuyện cho quên đi con đường thiên lý.

- Tam Tiểu Thư: Ông Tổng Quản ơi! Tôi không biết diễn tả như thế nào cho chính xác để ông hiểu điều tôi muốn hỏi. Người ta nói một cách chung chung, ý tôi muốn nói là nếu kể đến tất cả các loại người, thì sẽ có bao nhiêu loại con mắt thứ ba vậy ông? Và nếu con mắt thứ ba có nhiều loại, thì người ta có thể thấy được bao nhiêu loại khác nhau? Tôi không biết làm sao để phân biệt, vì ai cũng bảo là mình nhìn thấy cái gì đó, người thì nhìn thấy hào quang kiểu hiệu ứng Kirlan … người thì cảm nhận kiểu hiệu ứng Backster, người thì bảo nhìn thấy cái này cái kia mỗi người nói mỗi kiểu. Đúng là hiểu được chết liền …

- Ông Tổng Quản (cười hóm hỉnh): Ừ! Sự việc đến đây thì bắt đầu rắc rối rồi Tam Tiểu Thư ơi!

- Tam Tiểu Thư: Nhưng mà ông phải nghĩ ra cách nào để giải thích cho tôi hiểu chứ. Nói tóm lại, ông có thể phân loại một cách tổng quát, là người ta có thể nhìn thấy bao nhiêu loại khác nhau, để tôi có thể tạm có một khái niệm nào đó về chuyện này. Ông biết đấy cả Lobsang Rampa cũng như Barbara Ann Brennen đều bảo là mình có con mắt thứ 3. Trong tài liệu “Bàn Tay Ánh Sáng”, do tác giả Barbara là người có một kiến thức về khoa học hiện đại một cách vững chắc nên đã mô tả tiến trình mở nhãn của mình một cách chi tiết và có hệ thống. Tuy nhiên, chính bà lại xác nhận việc mở con mắt thứ ba chỉ là sự tình cờ ngẫu nhiên. Trong tài liệu này, tác giả đã mô tả con đường của con mắt thứ ba dựa vào mô hình giải phẩu của cơ thể học hiện đại.

Tôi biết có một số rất ít người, họ biết trước những việc sẽ xảy ra trong tương lai, một cách khá chính xác, như vậy có phải họ có con mắt thứ ba không ông? Ông mở Cuốn Tạp Thư để xem nó có biết việc này không. Nó sắp xếp, phân chia chủng loại của con mắt thứ ba thế nào?

- Ông Tổng Quản: Tam Tiểu Thư à! Không phải có mình cô bối rối như vậy đâu, mà có lẽ các độc giả đang đọc những dòng chữ này cũng không khác gì. Cho dù là một khoa học gia, một người tu thiền định, hay tu ở một trường phái nào đó …, có lẽ ít ai hiểu được thực sự và phân biệt được có bao nhiêu loại con mắt thứ ba, và các con mắt thứ ba có khả năng nhận biết các đối tượng khác biệt nhau như thế nào. Ít nhất những sách vở tài liệu phổ thông mà mọi người tham khảo, hay biết đến thì không có tài liệu nào nói chuyên sâu về con mắt thứ ba cả. Ai cũng biết rằng với những trang web ngày hôm nay, một người bình thường cũng có thể truy cập hầu hết bất cứ vấn đề gì mà mình quan tâm. Hay là cô mở laptop ra xem đi?

- Tam Tiểu Thư (cười lớn): Tôi tìm rồi ông ơi, không có trang web nào giải thích những điều tôi vừa thắc mắc cả.

- Tổng Quản (nheo mắt): Vậy sao? Tôi thì nghĩ thế này nhe Tam tiểu Thư: Nếu giả thuyết rằng, thiền định đã từng tồn tại qua nhiều ngàn năm, vào khoảng hai đến ba chục thế kỷ, thế thì vì lý do gì mà người ta tuyệt đối lại không có một tài liệu chuyên đề nào về vấn đề con mắt thứ ba chứ? … Phải chăng con mắt thứ ba chỉ là ảo tưởng của một số người tưởng tượng quá phong phú và thiếu thực tế ? Ý nghĩ này thực sự có thể làm nản lòng những nhà khảo cứu về lãnh vực này.

Tuy nhiên tôi đoán là có một người đã từng khảo cứu và do một cơ may nào đó, tình cờ hay cố ý, bỗng nhiên phát hiện ra rằng, mình có thể thấy được quá khứ vị lai, ít nhất là đúng với người khảo cứu này. Do vậy, con mắt thứ ba chính xác không phải là một ảo tưởng … nó là nguồn cảm hứng bất tận và vô giá; thế nên người đó mới để lại cuốn tạp thư này cho tôi và Tam Tiểu Thư tham khảo. Cô đồng ý không?

Ít nhất ở lãnh vực này, thì đối với nền văn hóa Âu Mỹ không phải là một sở trường. Cũng phải kể thêm rằng, người Âu Mỹ có quan tâm tới bộ môn thôi miên. Người ta cho là Mesmer là cha đẻ của bộ môn này. Qua bộ môn Thôi miên này, người ta có kể rằng con người thoát ra khỏi mình thành một con người khác như một đám mây mù.

Đối với người Á Châu thì đây lại là sở trường … nhưng chúng ta lại không phân biệt được, đâu là thật, đâu là giả, vì mọi người đều nhận mình là Chân sư. Xét cho cùng thì điều này cũng hợp lý, vì đâu có một chứng chỉ nào về tiêu chuẩn có xác nhận của cơ quan hữu trách, xác minh là Chân sư hay không phải Chân sư. Chỉ riêng lãnh vực này, từ ngữ cũng vô cùng đa dạng và phong phú. Tuy là trăm hoa đua nở như vậy, nhưng bộ môn này rất khó phát triển vì có rất nhiều lý do, mang tính chất đặc thù của Á Châu:

1. Ai từng tập luyện, đạt được một cái gì đó … nhất là khi vỡ lẽ được sự hiểu biết cao nhất, thì hay mang tâm lý bi quan yếm thế, lui về ở ẩn, xa lánh cuộc đời, không muốn phổ biến kiến thức của mình.

Tiếng nói nhân gian chán mất rồi
Mộ thu nghe quỷ xướng thơ chơi!


2. Có thể những người tu chứng này có hiểu biết về văn hóa hiện đại quá giới hạn, nên họ coi thường và đánh giá quá thấp khoa học hiện đại. Do đó mặc dù muốn nói ra nhưng lại không đủ khả năng để diễn tả điều mình muốn trình bày … nhất là những gì liên quan đến tinh thần của con người. Người ta lẫn lộn tôn giáo, mê tín, thế quyền, thần quyền, mặc cảm tự tôn để che giấu mặc cảm tự ti (Sadisque Masochiste), ảo giác về người hùng để che giấu sự sợ hãi.

3. Ai cũng biết Do Thái giáo là độc thần, Thiên Chúa giáo độc thần, Hồi giáo cũng độc thần … họ chỉ có một tài liệu: Kinh Koran, Kinh Cựu Ước … Còn Phật giáo, thì theo những tài liệu có thể là nguyên thủy (Trung Bộ Kinh, Trường Bộ Kinh …) thì lại không có thần nào cả … và nay bỗng trở thành đa thần!!! Kinh sách của Phật Giáo nhiều vô số kể, ai cũng bảo mình là chính thống! Bản thân Hồi Giáo, qua lịch sử cho biết, vì tranh giành vị trí lãnh đạo, nên nay cũng chia ra thành hai dòng khác nhau. Việc biến thể tất yếu này làm cho khảo cứu trở nên rất khó khăn, chưa kể đến việc phiên dịch ra quá nhiều thứ ngôn ngữ, cũng làm mất đi tính chất nguyên thủy của nó.

Quay lại câu hỏi của cô về vấn đề con mắt thứ 3, có bao nhiêu loại và nhìn thấy có bao nhiêu thứ, thì các tài liệu đề cập tới một cách tản mạn, tài liệu lại vô cùng ít ỏi, mỗi nơi trình bày một kiểu, với lý do đơn giản là bí truyền, bí mật … thế nên chúng ta chỉ còn một cách duy nhất là chấp nhận họ là những người có con mắt thứ ba.

- Tam Tiểu Thư: Tôi rất ngạc nhiên về những gì ông nói. "Cuốn Tạp Thư" của ông có vẻ không "tạp nhạp" tí nào cả, tôi thấy nó có hình bóng của một bộ bách khoa toàn thư thì đúng hơn, có lẽ hơn cả Wikipedia thì phải. Trước đây tôi cứ tưởng là mình đa năng đa hiệu, cái gì cũng nghĩ là mình biết … Hình như tôi hơi bị "chảnh". Ông có cách nào tóm tắt cho tôi dễ hiểu và dễ nhớ được không? Xem ra, nhờ vào Cuốn Tạp Thư "tạp nhạp" này, mà ông không đến nỗi lạc hậu, lẩm cẩm như tôi tưởng xưa nay.

- Ông Tổng Quản: Vậy tôi tóm tắt để cô chủ nhỏ dễ hiểu nhé.

1. Cuốn Tạp Thư cho biết, con người bình thường cũng có con mắt thứ ba. Chúng ta thử nghĩ lại xem, ai cũng thấy có hình ảnh nào đó xuất hiện trong tư tưởng của mình. Sự xuất hiện này đôi khi rất là ngẫu nhiên, nhưng chúng ta lại cho là, mình bị tự kỷ ám thị nên thấy như vậy, và cho rằng hình ảnh tưởng tượng là vô nghĩa. Do không sử dụng tới, nên khả năng của con mắt thứ ba từ từ bị suy thoái theo định luật đào thải.

Để làm sáng tỏ vấn đề này, chúng ta đặc biệt quan tâm tới hai phát biểu quan trọng về quy luật của con mắt thứ ba. Cô chú ý và lắng nghe kỹ những gì tôi sắp nói ra nghe:
 

* Nếu hình ảnh không có thật, thì người ta không tưởng tượng ra được.

* Hình ảnh tưởng tượng ở những cảnh giới gần với Dục Giới sẽ tương ứng với một cái gì đó trong cuộc sống thế gian của chúng ta.

Phát biểu này, mới nghe qua thì có vẻ quê mùa, ngớ ngẩn và vô lý, phản khoa học. Nhưng những phát biểu này nếu rơi vào tay một người tu Thiền Định dạn dày kinh nghiệm, từng khổ tâm khổ trí trong nhiều năm để tìm kiếm con mắt thứ ba, thì đây chính là chiếc chìa khóa nhiệm màu, để mở cánh cửa bí mật.

Quý độc giả nào hữu duyên, thì sẽ thấy phát biểu trên chính là tiên đề, là bí kíp để mở con mắt thứ ba. Nhưng nếu không có duyên, thì suy nghĩ cả đời cũng chẳng hiểu nổi những câu đó nói gì.

2. Số người nhìn thấy hào quang khá đông đảo, cả người tu lẫn người không tu. Việc tập luyện không quá khó khăn, nhất là đối với nữ giới. Màu sắc của hào quang, mang tính chất nhất thời tạm bợ … chỉ nói về con người lúc bấy giờ mà thôi … lệ thuộc ở sức khỏe, ở trạng thái tinh thần … Quý độc giả nào có hứng thú và quan tâm đến vấn đề này thì có thể tham khảo tài liệu của 2 tác giả Lobsang Rampa và Barbara Ann Brennan. Hai vị này đều nhìn thấy hào quang để chữa bệnh. Chúng ta sẽ quay lại với đề tài này trong một dịp khác.

3. Nhìn thấy Phật, Chúa, Thánh thần. Với bộ môn Phân Tâm Học và Tâm Thần Học … thì các việc này không có gì là khó hiểu cả, đây là đất dụng võ của hai bộ môn kể trên … có một Thánh Nữ ở một trường phái nào đó, thường nhìn thấy các linh ảnh, cách đây khoảng 5 thế kỷ. Hiện tượng cũng xảy ra với những người tu Thiền Định ở Việt Nam, nhiều vô số kể. Mà thôi, còn dài lắm … một lần không thể nói hết được.

Trời đã tối hẳn rồi, chúng ta ghé vào motel bên đường này để nghỉ ngơi ăn uống chút đỉnh đi Tam Tiểu thư.

- Tam Tiểu Thư (chặc lưỡi tiếc rẻ): Đúng là không đụng hàng. Những gì ông nói là: "có một không hai, có hai chết liền" ... Ông Tổng Quản ơi! Ông giống nàng Scheherazade trong "Nghìn lẻ một đêm" rồi …

(còn tiếp) ...

Tác giả: CTR

Ghi Chú:
Những bài viết của nhóm CTR, chỉ là sản phẩm của giả tưởng. Tuyệt đối không có bất cứ một giá trị nào, ở bất cứ lãnh vực nào. Mong quý độc giả lưu tâm!



Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 3

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 3: Tiên tri tính năng của con mắt thứ ba

Lữ hành bắt gặp quán cơm,
Bầy ong bắt gặp mùi thơm hoa rừng,
Đèo cao con suối ngập ngừng, 
Nắng thoai thoải nắng, chiều lưng lửng chiều. 
(Đường rừng chiều - Nguyễn Bính)

Đoàn bảo tiêu của gia tộc Xuyên Vân Kiếm Pháp, đúng là danh bất hư truyền, giang hồ lục lâm cũng phải nể mặt. Ven rừng có một quán trà, thô sơ đơn giản, bàn ghế đủ cho khách ngồi, một con chó nằm ngủ trong góc nhà … Ông Tổng Quản và Tam Tiểu Thư cùng ngồi một bàn uống nước trà.

Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 2

Có một không hai - có hai chết liền ...

Tập 2: Con mắt thứ ba nằm ở đâu?


Sau nhiều ngày di chuyển, đoàn Bảo tiêu dừng chân tạm trú tại một lữ quán nằm trơ trọi ven đường. Tam Tiểu Thư bước vào quán mà không thấy một bóng người, liền lên tiếng hỏi nhưng không ai trả lời, nàng vòng ra sau quán bước vào căn bếp lụp xụp xem có ai trong này … Chợt nghe tiếng động sau bức màn, nàng lùi lại thủ bộ và chụp sẵn thanh kiếm phòng hờ Bức màn vén lên hiện lên khuôn mặt quen thuộc của người Tổng Quản với đôi mắt đầy bí ẩn … ông nói: khỏi tìm Tam Tiểu Thư ơi … quán không chủ!


Con mắt thứ ba: Xuyên Vân Kiếm Pháp 1

Có một không hai - có hai chết liền ...

Kính thưa quý độc giả

Kể từ hôm nay, CTR xin được giới thiệu đến quý độc giả câu chuyện dài nhiều tập: “Con Mắt thứ ba - Xuyên Vân Kiếm Pháp”. Ai có được con mắt thứ ba, nghĩa là đạt được pháp nhãn, hay là sự minh triết. Con mắt thứ ba được CTR ví như một bảo kiếm “xuyên vân”: xuyên thủng mây mù vô minh. 
Nhóm CTR xin chân thành cm ơn cô Ái Tâm và cô Lê Uyên đã đánh máy và sa cha loạt bài viết này.


Tập 1: Giới thiệu bối cảnh

Khắp thế giới ngày nay có hàng ngàn công ty chuyên cung cấp dịch vụ bảo vệ: bảo vệ khách VIP, áp tải hàng hóa, tiền bạc, quý kim … thì từ thời xa xưa Trung Quốc đã có nghề bảo tiêu vang danh khắp chốn giang hồ. Theo sự phát triển của xã hội, đặc biệt là thương nghiệp, bảo tiêu từ cá thể chuyển sang tập thể. Đó chính là tiêu cục, và người được tiêu cục cử đi bảo vệ gọi là bảo tiêu. Đây là một nghề sinh sống bằng đao kiếm. Bảo tiêu không những giỏi võ mà còn phải am tường kinh nghiệm và tri thức giang hồ. Trên con đường thiên lý đầy gian lao bất trắc, họ không chỉ biết đoạn đường nào kẻ xấu xuất hiện, mà còn rành về thủ đoạn, phương thức và công phu võ nghệ cao thấp của chốn giang hồ. Xã hội Trung Quốc lúc bấy giờ đánh giá nghề này chẳng có gì là cao quý.