Pages

Trao đổi cùng quý độc giả về Mandala



Địa Điểm: Tại một tiệm cà phê tại thành phố Sài Gòn.

- Tam Tiểu Thư:

Em xin kính chào toàn thể quý độc giả hiện đang có mặt nơi đây, em cũng xin gởi lời kính chào đến tất cả
quý vị khán giả ở nhiều nước trên khắp thế giới, Hoa Kỳ, Úc Đại Lợi, Đài Loan, Việt Nam … Xin thay mặt cho tiêu cục Xuyên Vân Kiếm Pháp, cám ơn quý độc giả đã quan tâm ghé qua thăm trang blog của CTR. Tuy được rất ít quý vị phản hồi, nhưng cũng có rất nhiều quý độc giả đóng góp một cách nhiệt tình trung thực, trong tinh thần xây dựng để trang blog hiệu quả hơn, dễ hiểu hơn; cụ thể là: 

   * Cần phải trình bày bài viết dễ hiểu hơn nữa, tránh sử dụng những từ ngữ chuyên ngành, nếu sử dụng từ ngữ chuyên ngành, thì phải giải thích cặn kẽ, rõ ràng. Tránh sử dụng từ ngữ bằng tiếng nước ngoài, nếu có sử dụng thì phải dịch ra tiếng Việt Nam, kèm theo giải thích để cho dễ hiểu.
 

   * Nhưng cũng có nhiều quý độc giả ở nước ngoài, lại có yêu cầu là những từ ngữ chuyên ngành cần phải viết bằng tiếng nước ngoài, để cho những người không rành tiếng Việt Nam lắm, có thể hiểu được. Sử dụng những ngôn ngữ phổ thông như: Anh, Pháp, Đức …

Qua hai bài trình bày về hai trường phái hoàn toàn khác biệt nhau, để đưa đến định tâm, thì những phản hồi ít nhiều cũng làm cho em khá bất ngờ. Đối với đại đa số quý độc giả cả hai trường phái này dường như là xa lạ, và nhiều người khác thì chưa từng biết đến bao giờ.

Chẳng riêng gì tu tập Thiền Định, mà tất cả những loại tập luyện nào liên quan đến tinh thần, thì đều cần đến tập trung tư tưởng. Điển hình như những trường phái võ thuật, ngoài việc tập luyện quyền cước, giao đấu, đối kháng, công phá … song song đó đều phải tập luyện tĩnh tọa, ngồi yên lặng tập trung tư tưởng … Bình dân mà nói, nếu quyền cước là động, thì ngồi tĩnh tọa là tĩnh … Người tập Thôi Miên cũng không loại trừ việc tập trung tư tưởng.

Trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy và trường phái Mật Tông Tây Tạng, tuy khác nhau sâu sắc từ hình thức đến nội dung, nhưng có một thứ lại hoàn toàn giống nhau, đó là việc triển khai công thức bất tử: 


          "Chánh Định là tư cách Chú Tâm vào vật duy nhất"

CTR trình bày hai trường phái nói trên chỉ với mục đích duy nhất là cung ứng những sản phẩm vừa với ý thích của nhiều quý độc giả khác nhau.

Những độc giả xa lạ với hai trường phái này có thể là những vị đã bỏ rất nhiều thời gian vào một việc tập luyện một dạng Thiền Định nào đó. Và những dạng Thiền Định này có lẽ có khoảng cách với những trường phái tập luyện tập trung tư tưởng một cách chính quy.

Kính thưa quý độc giả,

Bộ môn dạy Thiền Định, tập trung tư tưởng như quý độc giả vừa biết, theo chiều dài của lịch sử thì là tài sản chung của nhân loại. Nó hoàn toàn không phải là đặc sản riêng tư gì của trường phái Phật Giáo.

Sau đây em xin nêu ra ý kiến của một số quý vị độc giả:

- NQD:
@ Thiền định thực hành: bài 2
 
Cảm ơn nhóm CTR nhiều lắm, rất háo hức chờ đợi những bài viết tiếp theo của nhóm, chúc mọi người trong blog mạnh khỏe và tu tập tinh tấn.

- Tam Tiểu Thư:

Em xin trân trọng cám ơn quý độc NQD đã động viên tinh thần em. Tuy nhiên, khi quan sát số độc giả ghé qua trang blog của CTR gần đây, thì em nhận thấy số lượng quý độc giả có phần giảm sút rõ rệt. Theo suy nghĩ chủ quan của em, thì có lẽ những bài viết của CTR về vấn đề Thiền Định, đã không đáp ứng được yêu cầu của quý độc giả. Tôn chỉ của CTR là "Viết những điều quý độc giả cần, chứ không phải viết những điều mình muốn viết". CTR sẽ cố gắng để hoàn thiện hơn trong tương lai.

- Tam Nhu: @ Thiền định thực hành: bài 2

Xin chào tất cả!
Xin cho hỏi với tư thế nằm mà tay cầm chày và bắt ấn khi công phu, đến sáng tay vẫn còn cầm chày và bắt ấn, vậy tư thế này có thể áp dụng khi công phu không? Xin TTT chỉ bảo thêm và cho ý kiến, cám ơn TTT nhiều!
p/s: khi đến sáng tay cầm chày phải nói là cứng đơ, đôi khi bị tê.


- Tam Nhu:
@ Thiền định thực hành: bài 2

Bổ sung
ý em muốn hỏi có cách nào để mình phân biệt là đang nằm thiền hay đang ngủ?


- Tam Tiểu Thư:

Thưa chị Tâm Như!

Chắc chị còn nhớ trong một bài viết về thực hành, em có đề cập tới vị thế Thiền Định. Mục đích chánh của chúng ta là tu Thiền Định, và bước đầu quan trọng nhất là làm sao Định Tâm thành công. Gần đây CTR đã giới thiệu hai phương cách, một là của Phật Giáo Nguyên Thủy, phương cách khác là của Mật Tông Tây Tạng. Xin thưa lại cùng chị, vị thế nào mà đưa lại thư giãn, buông thả, dễ chịu nhất, là vị thế tốt nhất cho mình tu Thiền Định. Và ngược lại, vị thế nào, mà tạo cho cơ thể không được thoải mái, không buông thả, mà còn cứng đơ, đôi khi bị tê … thì có lẽ không phải là một vị thế tốt.

Việc phân biệt giữa ngủ mê và Thiền, kể ra cũng khá dễ dàng. Khi Nhập Định thực sự, thì tâm trí hoàn toàn sáng suốt, tinh thần vật chất nhẹ nhàng, hạnh phúc, mọi việc đều ở trong tầm ý thức, các Phiền Não tạm thời không còn hiện hữu. Ngủ mê thì hoàn toàn ngược lại, trong lúc mê mình mất hoàn toàn ý thức, thậm chí lúc tỉnh dậy cảm thấy mệt mỏi.

Em hy vọng được gặp lại chị trong những bài viết khác.

Say đây em xin giới thiệu quý độc giả Tu Phong Son:

- Tu Phong Son: @ Thiền định thực hành: bài 3

Kính Tam Tiểu Thư,


Trước chúc mừng cô vừa mới Make up về, có cái photo thật xinh.
Chính, nói về Mandala. Theo bài trước thì đối tượng quán là Vô nhân còn Lục Độ Mẫu thì là người nữ. Vậy có mâu thuẫn gì không.
Nếu tiểu sinh thay mandala này thành một biểu tượng khác dể hơn như là vẽ ra một hình Bát quái (như cái mạng Nhện) thì được không ạ.
Ngoài ra, tiểu sinh thấy trên mạng có nơi họ thiền định dùng nhịp song âm (Binaural beats) để hạ sóng não về theta (4-7hz). Điều này có sai theo Vi diệu pháp không ạ?


- Tam Tiểu Thư:

Kính chào quý độc giả Tu Phong Son!

Em xin chân thành cảm ơn những lời khen ngợi của quý độc giả. Là phụ nữ thì ai cũng muốn make up để mình trở nên đẹp hơn, duyên dáng hơn. Thật ra thì chẳng kể là phụ nữ hay nam giới, ai cũng muốn đẹp trai, đẹp gái. Thời buổi @ này thì ngoại hình có vai trò rất lớn trong giao tiếp và kinh doanh. Riêng với Tam Tiểu Thư thì do bị "nhiễm" tư tưởng Phật Giáo hơi nhiều, nên biết Sắc Tướng là thể hiện của Nghiệp. Tâm tạo ra Nghiệp, và Nghiệp tạo ra Sắc Tướng. Do đó, khi Sắc Tướng thay đổi (kể cả là nhờ make up thành công), em hy vọng nghiệp lực tiêu cực cũng giảm đi phần nào, và nhờ vậy có nhiều cơ hội để đảm đương công việc đã được phân công, là phục vụ quý độc giả.

Đúng như những gì quý độc giả nhận xét, hai trường phái này xét ở bất cứ góc cạnh nào cũng hoàn toàn mâu thuẫn. Và cũng đúng như quý độc giả quý độc Hoa Đồng Nội có đưa ra nhận xét, kỹ thuật của Mandala Lục Độ Mẫu chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tạo ra trạng thái Định Tâm, cho quý độc giả nào hữu duyên với công cụ tu Thiền Định này.

Những điều quý độc giả thắc mắc là hoàn toàn chính xác. Sở dĩ CTR chưa trình bày về vấn đề này vì có rất nhiều lý do. Trước nhất, bài viết về Mandala Lục Độ Mẫu vẫn chưa hoàn tất, quý độc giả cũng chưa tập luyện với thời gian đủ dài. Nếu bây giờ đưa ra quá nhiều thông tin thì tất nhiên phải có những thông tin tích cực lẫn những thông tin tiêu cực, về cả mặt hữu vi lẫn vô vi.

Em lấy một thí dụ về việc tập luyện Mandala Lục Độ Mẫu.





- Khía cạnh tích cực là nếu tập thành công thì Tâm sẽ đứng im, mà thời gian Định Tâm kéo dài rất lâu. Đây là việc mà CTR mong muốn mang lại cho quý độc giả.

Trên thực tế thì từ xưa đến nay, nhân loại sử dụng trăm phương nghìn kế, nhưng dường như khó có cách nào để đưa đến việc Định Tâm cho người tập luyện. Ít nhất ở lãnh vực này, Mandala do những người Tây Tạng chế tác, thực sự là một phát minh quan trọng, một dấu mốc đáng ghi nhớ. Chính Mandala đã nâng công thức "Chánh định là tư cách chú tâm vào vật duy nhất" lên một tầm cao mới (vấn đề là sáng tác ra những mô hình khác, em sẽ đề cập đến sau).

Quả đúng như vậy, với kỹ thuật này đã có học giả nhận xét rằng những tu sĩ Tây Tạng mặc dù không phải là người có tư chất thông minh, nhưng họ đã tập rất thành công!

Chúng ta có thể tự hỏi là đàn pháp Tây Tạng có cái gì là cao siêu, huyền bí chăng? Theo thiển ý của em thì Mandala có nhiều vấn đề mà chúng ta cần quan tâm tới:


*** 1 Mandala triển khai thành công công thức bất tử: 
          "Chánh Định là tư cách Chú Tâm vào vật duy nhất" 

*** 2 Mandala gồm có tiến trình của nhiều màn kịch trong một vở kịch. Điều này đã tạo ra một áp lực rất lớn lao cho bất cứ ai, chứ không riêng các tu sĩ Tây Tạng.  

*** 3 Mandala là Đối Tượng dùng để Quán Tưởng trong khi Thiền Định (Theo những tài liệu chính quy). Nó không phải như một số người tập Mật Tông Tây Tạng ở Việt Nam đã hiểu lầm, là triển khai Mandala này bằng Ấn Chú, thiết lập Đàn Pháp Hữu Vi. Thêm vào đó họ còn truyền bá loại Chân Ngôn này, Ấn Chú kia, Mandala nọ … có công năng là chữa bệnh, trừ tà, tác pháp, thay đổi khí hậu các trận bão … Điều này em đã được mục kích tận mắt trên thực tế!

Em xin nhắc lại, Mandala Tây Tạng chỉ là một công cụ để tu Thiền Định.

- Khía cạnh tiêu cực: Hiện tượng mà em sắp trình bày sau đây có thể sẽ làm cho nhiều quý độc giả lúng túng. Thật ra thì nó sẽ là quá sớm khi trình bày điều này ở đây; nhưng do quý độc giả Tu Phong Son đặt ra, em buộc lòng phải nói ra. Mong rằng những điều trình bày này không làm cho quý độc giả đang tập luyện mang tâm trạng bối rối …

Đúng như quý độc giả Tu Phong Sơn nhận xét. Khi Cảnh Giới nào đó mà có tính chất Bản Tánh Sắc (từ ngữ này mô tả là có nam, có nữ), thì theo quan điểm của trường phái Phật Giáo, nó nằm trong cảnh Dục Giới. Kể cả cảnh Thiên Dục Giới là do Định mà có, nhưng cũng thuộc về Dục Giới. Do trình độ này (level) rất gần với Cảnh Giới Người, cấu tạo Tâm cũng tương tự nên làm cho người ta rất dễ Nhập Định. Ngoài vấn đề các thao tác kỹ thuật phức tạp, làm quá tải các giác quan của con người, thì đây có thể là một lý do nữa giúp người ta rất dễ Định Tâm khi quán tưởng Mandala. Một khi Định Tâm được, thì có một hệ quả trên thực tế là trong lúc tu Thiền Định, người tu loại Thiền Định này hay gặp các Vong Linh đến nhờ vả việc này, việc kia. Lý do như phần trên vừa nói, vì chúng ta rất gần gũi với những Cảnh Giới này, cấu tạo tâm tương tự nên các Vong Linh dễ giao tiếp với chúng ta.

Hiệu ứng này thật ra có hai mặt, chứ không thể nói là hoàn toàn tiêu cực. Dưới nhãn quan quá khích của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy, họ cho rằng đó là sự thoái hóa. Thế nhưng quý vị thử suy nghĩ xem, lần đầu tiên trong đời, chúng ta giao tiếp được với những Thực Thể không phải là người (mà những việc đó có thể kiếm chứng thực tế về mức độ trung thực), thì cũng tạo cho chúng ta Tâm lý, là cuộc sống này không phải chỉ có mình chúng ta, mà còn có những Thực Thể khác. Không những thế đây lại chính là kinh nghiệm bản thân của mình. Có thể nhờ kinh nghiệm này, mà những người dù có tâm lý duy vật nhất, cũng phải suy nghĩ lại. Kinh nghiệm này giúp chúng ta trở nên quyết tâm hơn trên con đường tu Thiền Định. Nếu suy nghĩ theo chiều hướng đó, thì chưa chắc các Mandala chỉ mang lại những hiệu ứng tiêu cực.

Còn một vấn đề khác xa hơn nữa mà có thể rất nhiều quý độc giả chưa thể thông cảm được, do quý vị chưa có một kinh nghiệm bản thân về nó. Người tập luyện một Đàn Pháp nào đó, tất nhiên có một vị gọi là chủ Chân Ngôn, có thể mang những tên tuổi mà nhiều quý vị biết đến, nhưng đồng thời quý vị cũng biết đó chỉ là những nhân vật hư cấu, cụ thể là không có thật!. 


* * * * * * * * * * * *

Theo cách tập này, người tu Thiền Định cố gắng: 

   * Quan sát cho kỹ, cố nhớ từng chi tiết, với tất cả khả năng nhớ của mình, về một Vị nào đó. Tốt hơn nữa là chúng ta có một cái tượng không gian ba chiều (chính vì lý do này, những người tu Mật giáo Tây Tạng có rất nhiều tượng cất trong tủ khi không dùng đến)
   * Nhắm mắt lại khi ngồi công phu, chúng ta phải,
   * Hình dung ra hình ảnh đó (tạo ra một hình ảnh bằng tưởng tượng) … 
   * Việc này làm liên tục và cao độ (trong thời gian rất dài nhiều tháng, nhiều năm) … Thế rồi hình ảnh đó đến một ngày sẽ trở thành một Thực Thể giống như một cơ thể sống.

Có nhiều trường hợp có thể xảy ra. Một Thực Thể ở cõi nào đó mà không có cấu tạo Sắc, thì nay sử dụng cấu tạo Sắc này làm thân thể của mình. Đây là điều rắc rối nhất, khi hình ảnh này trở nên một Thực Thể sống động. Thực Thể này do chính chúng ta tạo ra, hay nói đúng hơn là do Tâm chúng ta tạo ra. Do đó, Thực Thể này ra sao là phụ thuộc ở cấu tạo Tâm của mình.

Công việc này có thể xảy ra cho bất cứ ai. Nó có thể do tình cờ hoặc do tập luyện chính quy các Mandala đạt được. Nói một cách cụ thể, nếu chúng ta là người nóng nảy thì Thực Thể đó sẽ nóng nảy … Nếu việc này có xảy ra thì đừng
trách ai, mà hãy trách chính mình. 

* * * * * * * * * * * *

Kính thưa quý độc giả Tu Phong Son,

Mandala có khắp trên thế giới, hiện diện ở rất nhiều tôn giáo khác nhau: Lão Tử, Hồi giáo, Cơ Đốc giáo … Quý độc giả Tu Phong Son có thể tự làm ra một cái Mandala theo ý của mình. Mandala thường có hai ý nghĩa cơ bản: Vòng tròn và sự hoàn tất (circle, complet). Nó thường mang ý nghĩa là tiểu vũ trụ và đại vũ trụ (con người và vũ trụ), vũ trụ vĩ mô và vũ trụ vi mô.

Việc sử dụng tần số nào đó để hạ sóng não, thì rất phù hợp trên nguyên tắc lý thuyết vật lý. Nhưng trên nguyên tắc Thiền Định, thì người tu Thiền Định tránh sử dụng những biện pháp phụ trợ: Chất say, Thôi Miên … Họ thường tìm cách chủ động để làm chủ được tinh thần và vật chất. Tuy nhiên em thiết nghĩ, món ăn thì tùy khẩu vị.

Em xin cám ơn quý độc giả Tu Phong Son, em hy vọng sẽ được gặp quý độc giả trong những bài viết tới.

Em xin cám ơn quý độc giả Hoa Đồng Nội đã đóng góp rất nhiều bài viết có giá trị, điển hình như những bài viết nói về tác phẩm Vi Diệu Pháp. Để có được những bài viết này, quý độc giả đã phải mất nhiều giờ, nhiều ngày và có lẽ nhiều đêm để suy nghĩ.

Những bài viết gần đây của CTR ít nhiều đã sửa sang lại theo tinh thần đóng góp của quý độc giả Hoa Đồng Nội. CTR cố gắng viết bình dân hơn và tránh tối đa sử dụng những từ ngữ chuyên môn, tiếng nước ngoài. Cũng mong quý độc giả Hoa Đồng Nội thông cảm vì trang blog không phải chỉ dành cho người sống ở Việt Nam, mà còn có nhiều quý độc giả nước ngoài; thế nên việc chú thích bằng tiếng nước ngoài để tiện việc tham khảo cũng là điều hợp lý.

Cuối cùng xin đặc biệt cảm ơn những tình cảm Hoa Đồng Nội đã dành cho CTR. Những tình cảm này là động lực, là sự khích lệ về tinh thần quý báu giúp CTR có thêm năng lượng để hoàn thành những hoài bảo của mình.

Kính chúc quý độc giả tu Thiền Định tinh tấn.

Tam Tiểu Thư.



Cuộc điện đàm viễn liên ...

          
          "Phút đầu gặpEm tinh tú quay cuồng" ...
                                                                 Tốc Hành Tâm (Javana) tiếp theo ...


NỘI DUNG:

Một độc giả ở Úc Đại Lợi có những ý kiến thắc mắc tương tự như quý độc giả 2 Ì Ạch, Hổ nước tương. Mặc dù đã có đọc bài Họp Báo số 19, nhưng quý độc giả này vẫn chưa cảm thấy thỏa mãn với những điều Tam Tiểu Thư đã đóng góp. Do đó quý độc giả này có hẹn và sắp xếp một cuộc trao đổi qua điện thoại đường dài với Tam Tiểu Thư. Không may là mấy hôm nay Việt Nam đang có trận bão nên tín hiệu rất xấu.

- Độc giả Úc Đại Lợi:

Alo! Chào Cô Tam Tiểu Thư. Tôi xin phép tranh thủ đi ngay vào vấn đề để không làm mất thời gian của cô nhé. Tôi cũng có những thắc mắc tương tự như quý độc giả: Hổ nước tương, Mưa Thu, 2 Ì Ạch @ Cuộc họp báo 18 … nhưng phần đóng góp ý kiến của cô trong bài Cuộc họp báo 19, tôi vẫn chưa hiểu rõ! ... Cô có thể vui lòng giải thích lại câu trả lời cho quý độc giả Hổ nước tương về vấn đề Niết Bàn không ạ? Cám ơn cô nhiều.

- Tam Tiểu Thư:

Alo, xin chào quý độc giả. Quý độc giả nghe rõ không ạ?! Ở đây đang có bão nên tín hiệu nghe không tốt lắm.

Kính thưa quý độc giả Úc Đại Lợi. Để đóng góp ý kiến cho câu hỏi này, có lẽ nói đúng hơn để làm sáng tỏ, minh họa, em xin trình bày bằng hai cách: Thực tế và Lý thuyết … tùy quý độc giả chọn lựa.

Theo như quý độc giả thì có một nguồn thông tin nào đó đã cho biết rằng việc nhập Diệt Tận Định, Niết Bàn và đắc những Quả Thánh được mô tả như là: "Phút đầu gặp Em tinh tú quay cuồng" Một cách dân gian mà nói, thì đây là một hiện tượng tâm sinh lý. Nó liên quan đến tuyến nội tiết, đến giới tính ... Không cần phải có những kiến thức quá uyên bác về vấn đề huyền môn, mà chỉ cần kiến thức y khoa phổ thông, cũng hình dung ra được là trong trạng thái "Tinh tú quay cuồng
" đó, thì huyết áp tăng cao, nhịp tim tăng lên vèo vèo. Người hơi lớn tuổi mà rớt vào "phút đầu" này thì có thể tiến đến "phút cuối" nhanh như chớp do bị nhồi máu cơ tim hoặc đột quị chứ chẳng chơi! Em nghĩ chắc chẳng có ai thiết tha để nhập Diệt Tận Định hay là Niết Bàn theo "xì tai" đó.

Nói thực tế hơn, nếu nhập Diệt Tận Định hoặc Niết Bàn mà như thế này, rồi lại còn thường xuyên đi ra, đi vào, thì mình tự biến mình thành khách hàng trung thành của những hãng dược phẩm bào chế thuốc trợ tim, huyết áp …

Khi một người tu tập, dù ở bất cứ trường phái nào, tập luyện theo một loại kỹ thuật nào đó theo tiến trình tiệm tiến, thì đều có thể mô tả cảm giác, khái niệm, ấn tượng về hệ quả của Thiền Định như sau: 


Ai cũng cảm thấy ít nhiều sự an lạc, hạnh phúc tinh thần và vật chất. Hiện tượng này gia tăng cường độ cùng với việc tăng trưởng của các lớp Định. Mặt khác, hạnh phúc này không giống như hạnh phúc thế gian vì nó không có phản ứng phụ hay phản tác dụng. Niềm vui, niềm hạnh phúc này càng ngày càng tế nhị hơn, tinh tế hơn. Một người đã nếm trải kinh nghiệm lúc Nhập Định, thì sau khi Xuất Định, những chuyển biến tư tưởng trong lúc Nhập Định cũng làm Phiền Não ít nhiều giảm thiểu, sức khỏe tốt hơn, ít xúc động về tâm lý hơn do tâm lý ổn định. Hệ thống tuần hoàn dường như tốt hơn, nhất là người đó chịu khó tập thể dục đơn giản hàng ngày.

Nếu chúng ta thực hiện tu Thiền Định và có ý định vượt ra khỏi cảnh Vô Sắc, thì đây là một lãnh địa mới. Việc này đòi hỏi người tu Thiền Định phải có những kiến thức nhất định mang tính chất chuyên nghiệp. Điều này có nghĩa là dù muốn hay không, dù tu ở bất cứ trường phái nào, cũng phải hiểu ít nhiều về những tài liệu Vi Diệu pháp.

Em không có ý định quảng bá hay tiếp thị tài liệu này đâu, nhưng vấn đề là trong hoàn cảnh của nhân loại hiện nay, theo em được biết là không có một tài liệu nào, ngoài tài liệu nói trên, hướng dẫn về cách vượt ra khỏi lớp Thiền Vô Sắc cao nhất là Phi Tưởng Phi
Phi Tưởng. Nói tóm lại, dù muốn hay không, chúng ta không có sự chọn lựa nào khác ngoài tài liệu nói trên.

Thật ra cũng có những tài liệu tương tự, nhưng tác giả lại đề cập đến những vấn đề khác, chứ không phải là kỹ thuật để vượt ra khỏi
Phi Tưởng Phi Phi Tưởng. Em lấy thí dụ: 

* Tài liệu Patanjali (với 195 chân ngôn): Theo chủ quan của em, thì tài liệu này mạnh nhất về việc đưa ra những mô hình để tập trung tư tưởng. Người ta cho là từ CHỈ (tức là tập trung tư tưởng) sẽ đạt được hệ quả là QUÁN (có nghĩa là vỡ lẽ được sự thật).

* Tài liệu Tam Pháp Độ Luận: Theo em thiết nghĩ, là một phản ứng với khái niệm Vô Ngã. Cụ thể là tài liệu này đề cập tới vấn đề Hữu Ngã ở nhiều góc cạnh vô cùng tế nhị. Ngoài ra còn rất nhiều tài liệu khác; trong số đó có một tài liệu cũng mang tên là Vi Diệu Pháp, được viết bởi một vị là Luận Sư (xuất bản tại Hoa Kỳ Hayward, CA. USA - 15.05.2011).

Trên nguyên tắc, từ các chuyên gia cho đến những người như em, như quý độc giả, đều cho là tài liệu VDP, được trước tác song song cùng với những bộ kinh. Mọi người đều biết là trong thời gian Sakya Muni tại thế và nhiều trăm năm sau, Ấn Độ không có chữ viết. CTR đã nhiều lần nói về nguồn gốc chữ viết tại Ấn Độ. Vậy mà trong tài liệu này lại in ở những trang cuối cùng (11 Quả Phước Pháp Thí ấn tống Kinh Sách). Chắc quý độc giả còn nhớ, đây là tư tưởng từ những bộ Kinh Ngụy Tạo của Trung Quốc, đồng hóa tư tưởng Khổng Mạnh với Phật Giáo. Bản thân em cũng như quý độc giả, mỗi lần tham khảo tài liệu của trường phái Phật Giáo để thuyết minh một cái gì đó, luôn luôn cảm thấy tâm trạng bất an. Thật vậy, nhìn vào tủ sách của trường phái Phật Giáo Việt Nam, chúng ta thấy không thiếu gì những vị đạo cao đức trọng, danh tiếng như núi Thái Sơn, như Sao Bắc Đẩu … nhưng trong tác phẩm của các vị này, lại đầy rẫy dẫn chứng của những tài liệu Đại Thừa 100% made in China (thí dụ như tài liệu Phật Học Khái Luận được in vào năm 1993).

Sở dĩ em phải dông dài như vậy là để khi trình bày về đề tài này, chúng ta có thể định vị rõ ràng vào một tài liệu nào đó (tạm gọi là chúng ta mặc định với nhau), nếu không sẽ rơi vào tình trạng "Ông nói Gà, bà nói Vịt", vì thiếu tính chất nhất quán.


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

 1. Lộ trình Luồng Tâm Thức khi Nhập Định, còn gọi là Cittavithi

Căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp, thì bình thường có 16 hay 17 Sát Na Tâm, trong đó có 7 Tốc Hành Tâm. Người tu Thiền dùng một Đối Tượng là khách quan hay chủ quan, thì sẽ có những diễn tiến như sau: 


* Chuẩn Bị > Cận Hành > Thuận Thứ  > Chuyển Tánh > ... Nhập Ðịnh   (gọi là An Chỉ Tâm). 
Em xin giải thích thêm những từ ngữ nói trên:

Tốc Hành Tâm: là những Tâm khởi lên từ số 8 đến 14.

     Chuẩn Bị (8): là tình trạng chuyển tiếp đến một loại Tâm mới. 
     Cận Hành (9): là ở gần loại Tâm mới. 
     Thuận Thứ (10): là Tâm này và Tâm trước hòa hợp với nhau. 
     Chuyển tánh (11): là chuyển qua một loại Tâm mới, cuối cùng là: 
An Chỉ Tâm (12-14): là Tâm đứng im.

.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

 Tâm đứng im có nghĩa là trong tâm tư chúng ta vắng lặng, muốn nghĩ gì cũng không nghĩ được. Những Phiền Não bình thường, những nhu cầu bình thường của con người như: Nhu cầu ăn uống, nhu cầu giới tính, giận ghét, yêu thương, nhớ nhung … đều không hiện hữu trong trạng thái An Chỉ Tâm. Trạng thái An Chỉ Tâm là một trạng thái mà ý thức bình thường của chúng ta không còn hiện hữu. Luận Lý Hình Thức là nền móng của suy tưởng, là chiếc gạch nối giữa Chủ Thể (con Người) và Đối Tượng (thế giới khách quan) không còn hiện hữu. Điều này nghe tưởng chừng như vô lý nhưng lại có thật. 

Chính hiện tượng này làm cho em hoặc quý độc giả hay biết là mình đã đi qua một chiều không gian khác, chuyển qua một Hệ Quy Chiếu khác, một khung tham khảo hoàn toàn khác biệt. Trong lúc Nhập Định, chúng ta hoàn toàn thấy mình sáng suốt, không có hiện tượng gì là mê muội (dạng như ngủ mê, sử dụng thuốc ngủ, thuốc mê, rượu ...). Chúng ta thấy mình sáng suốt hơn bao giờ hết. 

Có một hệ quả làm cho cả em cũng như quý độc giả vô cùng bất ngờ, đó là có một loại khoái cảm, một loại hạnh phúc … dường như bất tận và đặc biệt nhất là nó tràn ngập thể chất cũng như tinh thần, không có phản ứng phụ. Theo các chuyên gia về Thần Kinh thì cho là trong óc chúng ta đã tiết ra hóa chất Dopamine, Noradrenaline … hoặc những hóa chất khác nữa chúng ta chưa biết. Vẫn theo các chuyên gia về Thần Kinh, thì họ cho là việc tiết những hóa chất này, được điều tiết ở một chừng mực nhất định nào đó, khi người tu Thiền Định Định Tâm. Người sử dụng thuốc phiện, chất say, não cũng tiết ra những hóa chất tương tự ở một mức độ rất cao, rồi bỗng nhiên chất này lại bị ngưng tiết. Chính vì lý do này, người sử dụng chất say có hiện tượng bị vật vã thể chất.

Kính thưa quý độc giả,

Ở trạng thái An Chỉ Tâm, ngoài những điều nói trên, thì nay chúng ta được chứng nghiệm một hiệu ứng mà làm cho chúng ta nhớ mãi. Cụ thể là dường như: 


Tôi vẫn có một cái Tôi, di trú từ nơi này qua nơi khác, xuất hiện ở dạng này hoặc dạng khác. 
Tôi vẫn biết Tôi Tôi, chứ không phải là người khác. Điều đặc biệt là: 
Tôi cảm thấy cấu tạo cái Tôi có khác đi, tài liệu chuyên ngành hay gọi đó là Khinh An, có nghĩa là nhẹ nhàng và an lạc. 

Điều đáng nói nhất làm cho chúng ta ít nhiều ngạc nhiên, là giác quan để tri giác thế giới khách quan cũng như thế giới chủ quan đã hoàn toàn thay đổi. Để có thể hiểu được, lý giải được chuyện này, chúng ta cần đến kiến thức về Vi Diệu Pháp. Chính Vi Diệu Pháp đã giúp chúng ta biết là trong trạng thái Nhập Định, cấu tạo Sắc đã ít nhiều thay đổi và Tâm thì quá thay đổi. Chúng ta đừng quên công thức hay định đề: "Tâm đứng đầu, Tâm tạo tác tất cả".

Nếu thực sự đạt được trạng thái An Chỉ Tâm, thì cấu tạo Tâm sẽ trở thành một dạng Thực Thể khác. Do đó chúng ta sẽ "Thấy Biết" (hiểu theo nghĩa Thấy Biết của Dục Giới) một cách khác. Ở cảnh Sắc Giới, chúng ta nhìn thấy những biểu tượng thì rời rạc, nhưng ý nghĩa của nó lại sâu sắc. Một hình ảnh có khi bao hàm hàng ngàn lời nói, thậm chí là mô tả vô lượng kiếp của một chúng sanh. Điều em nói có lẽ không quá đáng đâu. Em có thể đan cử những thí dụ khá phổ thông (mà có thể quý độc giả không ngờ) xảy ra trong đời sống dân gian trên khắp thế giới, bất cứ ở thời điểm nào, địa lý nào, để giải thích về chuyện biểu tượng này.

Quý độc giả có bao giờ tự hỏi là tại sao ở Đông Phương cũng như ở Tây Phương, người ta lại dùng biểu tượng là những con Giáp khi mô tả cuộc đời con người? Chúng ta chấp nhận nó tự nhiên, chẳng ai quan tâm thắc mắc. Người ta có thể cho là ai đó đã tình cờ đưa ra những con Giáp, nhưng nếu thế thì tại sao cả Đông Phương và Tây Phương lại cùng gặp nhau về ý tưởng đó? Nó có phải ngẫu nhiên, tình cờ không?

Theo quan điểm chủ quan của em, thì người đạt được trạng thái An Chỉ Tâm có phương tiện để tri giác thế giới khách quan, chủ quan khác với người bình thường. Tuy rằng người Nhập Định thấy những biểu tượng rời rạc, nhưng ý nghĩa của nó thì hàng trăm trang giấy không mô tả đủ. Ở trạng thái An Chỉ Tâm, người ta có một loại Luận Lý Hình Thức khác, hoàn toàn khác với loại
Luận Lý Hình Thức mà chúng ta đang mặc định sử dụng. Nếu quý độc giả có kiên nhẫn khi đọc tới đây, thì có thể hiểu rõ việc "Thấy Biết" mà người ta thường mô tả là qua một "cuốn video clip", thực sự là bệnh Hoang Tưởng.

Quay lại trạng thái mà quý độc giả có đề cập tới "Phút đầu gặp Em tinh tú quay cuồng" ... thì trạng thái này phải nói là mâu thuẫn một cách tuyệt đối với trạng thái An Chỉ Tâm. Em rất mong được nghe ý kiến của những vị đã từng Nhập Định.

- Độc giả Úc Đại Lợi: Tam Tiểu Thư vui lòng trình bày lại vấn đề:

2. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Quán đạo Quả, đạo Tâm. (Tứ Thánh).

- Tam Tiểu Thư:

Vẫn căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp thì diễn tiến về Luồng Tâm Thức sẽ xảy ra như sau: Từ Tâm số 1 đến Tâm số 7, là việc chú Tâm vào một Đối Tượng chủ quan hay khách quan. Nếu diễn tiến này xảy ra với chiều hướng tích cực, cụ thể là người đó thực sự chú Tâm vào vật Quán Tưởng, thực sự giữ được vật Quán Tưởng không mất trong tư tưởng trong một khoảng thời gian nhất định nào đó, thì Tốc Hành Tâm sẽ xuất hiện.

Lộ trình cũng giống như lộ trình Nhập Định nhưng chỉ khác về Đối Tượng để Quán Tưởng. 


Để đạt Đạo Quả, Đối Tượng Quán Tưởng là 10 Phiền Não (theo quy ước hàn lâm kinh điển của trường phái Phật Giáo Nguyên Thủy). Tuy nhiên, cũng có tài liệu thì lấy Đối Tượng là: Từ, Bi, Hỉ, Xả.

Rất mong quý độc giả chú ý về điểm khác biệt này: Sau 4 Sát Na Tâm của Tốc Hành Tâm, thay vì là An Chỉ Tâm, thì nay là Đạo Tâm (là quả vị), tiếp đến 2 sát na sau là Quả Tâm. Để dễ nhớ và đỡ lầm lẫn, quý vị cố nhớ từ ngữ: 


Magga: là Quả Vị (nói về vị trí mà mình đạt được (position). 
Phala: là Quả Tâm. (sự ý thức được việc này) 
Hai từ ngữ này của Việt Nam rất dễ gây lầm lẫn, rất mong quý độc giả lưu tâm.

Có 4 Quả vị (Magga) hay là 4 cấp bậc để đạt tới khi tu theo cách này là:

          Dự Lưu > Tư Đà Hàm
> A Na Hàm > A La Hán

Chúng ta phải để ý rằng mặc dù đạt được những Quả Vị này, nhưng cấu tạo Tâm vẫn thuộc về loại Tâm là Thiện Tâm. Do đó, đưa đến việc đầu thai ở một cảnh giới, cao thấp tùy theo, tạm gọi là đẳng cấp của mình đang có. Thí dụ A Na Hàm thì được đầu thai ở Cảnh Giới cao hơn Dự Lưu. Nói chung là vẫn còn Luân Hồi.

Đến đây có thể quý vị sẽ thắc mắc là tại sao khi đã đạt Quả Vị Thánh mà vẫn còn Luân Hồi?

Câu trả lời theo Vi Diệu Pháp như sau:

Do những người tu theo kỹ thuật này chấp vào việc là họ ý thức được công việc của mình làm, ý thức được cấu tạo Tâm của mình. Những Tâm này được gọi là Thiền Thiện Tâm. Từ đó dẫn tới việc sanh ra một hậu quả tốt, người ta gọi là Thiền Thiện Dị Thục Tâm và đưa tới đầu thai để hưởng cái quả này, chứ không đưa tới việc Giải Thoát như rất nhiều người lầm tưởng. Chúng ta phải chú ý tới khái niệm này để phân biệt với Luồng Tâm Thức tu Thiền Tưởng có khả năng đưa tới Niết Bàn.

- Độc giả Úc Đại Lợi:
Xin Tam Tiểu Thư vui lòng trình bày lại vấn đề:

3. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Tu Thiền Tưởng (chứng Niết Bàn).

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý độc giả,

Vẫn căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp thì diễn tiến của Luồng Tâm Thức cũng tương tự như trên. Có lẽ sự khác biệt nằm ở chỗ này:

Kể từ khi tu Thiền Định Hữu Sắc, Vô Sắc, một vị A La Hán (nói theo từ ngữ của VDP) phải có tính chất đặc biệt gọi là Tâm Duy Tác. Nói về ý nghĩa, thì từ ngữ Duy Tác là ngược lại với từ ngữ Dị Thục. 


* Dị Thục: là một loại Tâm, bất kể ở Cảnh Giới nào, bất kể là Thiện hay không Thiện, đều đưa tới quả báo là Luân Hồi Sanh Tử. Một Tâm có tính chất; 
* Duy Tác: là nó có tác dụng, nhưng nó không chứa đựng nguồn gốc là Nhân, bất kể Thiện hay không Thiện. 

Em xin đưa một thí dụ cụ thể để cho dễ hiểu. Ai trong đời cũng có lúc, giúp ai đó, mà không suy nghĩ gì cả. Thí dụ như chúng ta đang tập trung nói chuyện về một công việc gì với ai đó, thì có một người tàn tật, người già đến xin tiền. Chúng ta rút tiền ra giúp một cách phản xạ không suy nghĩ gì hết. Tâm này là Tâm Từ, không câu hữu với Tâm Si là mê muội, hiểu không đúng sự thật. Tâm này mang tính chất là một hành động nhưng không có Nhân, gọi là Tâm Duy Tác.

Nếu người tu Thiền Định sử dụng những kỹ thuật nói trên, nhưng những Thiền Tâm này được thao tác một cách cơ học bản chất là Duy Tác, thì cách tập luyện này có khả năng hướng tới Niết Bàn.

Em hy vọng quý độc giả Úc Đại Lợi, Hổ Nước tương ... chia sẻ ít nhiều quan điểm với em. Sở dĩ em phải nêu ra như vậy, vì những điều mà em dẫn chứng căn cứ vào tài liệu Vi Diệu Pháp, là những thông tin mang tính chất thiếu chính xác rất cao. Ít có trường phái nào mà lại có quá nhiều không gian, thời gian trống trải, để cho các bộ óc có trí tưởng tượng phong phú mặc tình thao túng. Những tài liệu gọi là Vi Diệu Pháp bằng tiếng Việt Nam nhiều vô số kể, từ ngữ sử dụng khác nhau và tệ hại hơn nữa, nội dung cũng khác nhau và thậm chí là mâu thuẫn với nhau. Do đó, không biết đâu là tài liệu thật hay là tài liệu ngụy tạo. Có nhiều chương trong một tài liệu Vi Diệu Pháp nào đó, có người đã bỏ ra nhiều thập kỷ để đọc, cũng chẳng hiểu nói gì, mặc dù là viết tiếng Việt Nam. Lỗi này là của dịch giả hay do người đọc thiếu trí tuệ nên không đủ sức để hiểu?

Lại một lần nữa, em xin đóng góp ý kiến với quý độc giả Hổ nước tương và quý độc giả Úc Đại Lợi. Em xin nhắc lại toàn bộ bản văn cuối cùng của quý độc giả:


- Hổ nước tương: @ Cuộc họp báo 18

“Nhân tiện xin Tam Tiểu Thư giải thích thêm … Làm thế nào để một hành giả nhận biết được qui trình mình đã Quán Tưởng thành công và đạt Đạo Quả? Đạo Tâm hoặc Niết Bàn?

Cám ơn Tam Tiểu Thư.”


- Tam Tiểu Thư
Kính thưa quý độc giả, để em thử cố gắng góp ý với phần đóng góp của quý độc giả đưa ra.

Hạnh phúc, an tịnh, sự khô cạn của các Phiền Não … là một số từ ngữ mà các tài liệu thường dùng để mô tả về trạng thái Niết Bàn. Theo em hiểu, Niết Bàn chỉ là một trạng thái tâm lý, trạng thái tinh thần tùy quan điểm của từng chủ thể bất kỳ. Với ai đó có thể là vườn Địa Đàng mà mình đã từng đánh mất. Với người khác thì đó là cuộc hôn phối vĩnh cửu với Đấng Vĩnh Hằng. Với nhà phát minh thì được nhìn thấy lý thuyết của mình trở thành hiện thực. Với một con người lãng mạn thì đó là sự thăng hoa của tình yêu … Em thiết nghĩ còn rất nhiều dạng khác mà chúng ta không thể kể hết.

Dù ở bất cứ trường phái Thiền Định nào, nếu những người thực hành thực sự có kết quả, đều có thể cảm nhận hiện tượng khách quan như sau: 


Tính chất hạnh phúc nhẹ nhàng, an lạc … Mức độ thì từ thô thiển như hạnh phúc thế gian, cho đến càng ngày càng trở nên tinh vi, tế nhị, đồng biến với các lớp Thiền Định. Một điều làm cho người tu Thiền Định bất ngờ, đó là kể cả ở những lớp Định nào đó, dù tinh vi tế nhị … rồi cũng làm cho ta sinh Tâm nhàm chán. Do nhu cầu của chúng ta càng ngày càng tinh vi, nên tiến trình gạn lọc Thân Tâm kéo dài dường như bất tận. Mặt khác, công cụ quan sát thế giới khách quan cũng như chủ quan, cũng trở nên tế nhị, tinh vi từ từ. Tri thức luận lành mạnh, chiếc gạch nối, chiếc cầu để ý thức được thế giới khách quan, thế giới chủ quan, làm cho chúng ta vô cùng kinh ngạc. Nó khiến chúng ta có thể hiểu được những điều, biết được những việc hoàn toàn nằm ngoài tầm hoạt động của con mắt và các giác quan bình thường khác. Nói một cách cụ thể, chúng ta đã có những giác quan, quan trọng nhất là một hệ thống Tri Thức Luận, một mô hình Luận Lý Hình Thức hoàn toàn mới. Nhờ những sự biến đổi này, mà bất cứ ai Thực Chứng Thiền Định, đều có cảm tưởng về một ấn tượng Niết Bàn nào đó.

Đời sống ở cõi Thiền Định thanh thoát nhẹ nhàng, Phiền Não dường như không còn. Tuy nhiên qua chiều dài của những buổi Nhập Định, đâu đó người ta vẫn thấy tính chất hạn chế. Ai cũng có tâm trạng là nếu các cõi Thiền mà đã như thế này, thì ắt hẳn phải có một cõi nào đó: Không sanh, không diệt, không sáng, không tối … Nói một cách khác, ở đó không có cái gì cả … Người ta mơ hồ nhận ra rằng, dường như có một trạng thái vĩnh hằng có thể nằm trong tầm tay của người tu Thiền Định.

Trong trao đổi lần tới, em hy vọng sẽ được trao đổi cùng quý độc giả về việc chúng ta có ý định xây dựng một giáo trình, để mọi người đều có khả năng sử dụng. Trước khi chấm dứt, em xin có vài lời để trao đổi sơ bộ về vấn đề này. Chắc quý độc giả cũng biết, ít nhất đến giờ này, chúng ta không hề thấy một tài liệu, phải bảo là nghiêm túc, đáng tin cậy … để hướng dẫn về việc tu Thiền Định. Khi nhìn vào các tài liệu của những người Tây phương, kể cả những khoa học gia tu Thiền Định và viết về vấn đề này, thì chúng ta có cảm tưởng dường như vấn đề mới được nhìn ở một phía.

Trân trọng kính chào tạm biệt quý độc giả!




Cuộc họp báo 19 Tiêu Cục Xuyên Vân Kiếm Pháp




         
          Tốc Hành Tâm (Javana) &
              sự khác biệt khi:  N H Ậ P  Đ Ị N H  T H I Ề N  Q U Á N  *  T H I Ề N  T Ư Ở N G


BỐI CẢNH
Địa điểm được chọn để họp báo lần này là quán cà phê Apocalypse ở Thảo Điền Quận 2, TPHCM. Quán có khoảng không xanh ngát phóng khoáng, lãng mạn và yên bình. Những chú chim sẻ chuyền cành ríu rít hót trong nắng sớm, tiếng gió rì rào qua kẽ lá. Buổi sáng êm đềm.

Với dáng vẻ nhất quán, khỏe mạnh lanh lẹ, Tam Tiểu Thư bước nhanh trên các bậc thang. Với thái độ nghiêm trang và kính cẩn, cô chắp tay trước trán chào các cử tọa. Vẫn với ánh mắt hiền hòa, nụ cười đôn hậu vốn có …

- Tam Tiểu Thư:
Em xin kính chào toàn thể quý cử tọa. Thật là vô cùng biết ơn và xúc động khi được quý cử tọa đông đảo tham dự nhiệt tình qua những bài comments. Đây chính là nguồn cảm hứng và động lực, thúc dục em phải cố gắng hơn nữa trong công việc của mình. Do khả năng của em còn hạn chế, nên rất mong được quý cử tọa chỉ bảo những sai sót. Em xin đan cử trường hợp điển hình: Quý cử tọa Ì Ạch không những đã nhiệt tình đóng góp mà còn chỉ ra những sai sót, thậm chí còn chỉ bảo cả cách khắc phục. Cảm động nhất là ngoài tình cảm nhiệt tình và xây dựng, còn động viên em bằng những lời nói như "ráng cố gắng nhiều nha".

Hôm nay em xin giới thiệu những quý cử tọa đã đưa ý kiến đóng góp như: Mưa Thu ngày 9/9, Hổ nước tương ngày 10/9, Tu Phong Son ngày 13/9, Ì Ạch ngày 12/9, Nặc Danh ngày 7/9 … và nhiều quý cử tọa khác.

Bắt đầu buổi họp báo, em xin đăng tải ý kiến của Mưa Thu ngày 9/9.

- Mưa thu: @ Cuộc họp báo 18: Cách tu PG Nguyên Thủy

Tam Tiểu Thư thân mến,

Tam tiểu Thư có nhiều cuộc trao đổi bên lề. Bữa nay cho em hỏi một câu cũng ... bên lề.

Bài viết này quá là hay, xuất thần. Em đọc đi đọc lại từng câu từng chữ và có cảm giác bài viết này phải tới từ một cảnh giới khác. Bài viết phân tích về pháp môn rất thấu đáo và trí tuệ. Người ta đồn rằng Tổng Quản là A La Hán. Tam Tiểu Thư giới thiệu mình là phát ngôn viên của Tiêu Cục Xuyên Vân kiếm pháp; vậy nên em muốn hỏi Tổng Quản có phải là A La Hán hay không? Em thực sự rất tò mò về nhân vật Tổng Quản. 

Em mong nhận được câu trả lời có tính chất "sự thật không che đậy" của Tam Tiểu Thư. Cám ơn TTT rất nhiều.

Kính

 
- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Mưa Thu.

Đúng như quý cử tọa nhận xét, bản thân em chỉ là chiếc gạch nối không hơn, không kém. Bài viết mà được quý cử tọa có hảo cảm đó, chính là tài liệu lấy ra từ cuốn Tạp Thư. Em xin thưa lại, cuốn Tạp Thư chỉ là một cuốn sách, không có bìa, không có tác giả, được mua ở chợ trời. Em chỉ biết đầu đề cuốn sách là Tạp Thư, có nghĩa là ở trong đó viết đủ thứ: từ nấu ăn, sửa điện, thiết kế đường ống nước, cập nhật về thuế VAT, thuế cầu đường, trước bạ xe … Tóm lại cái gì cũng có.

Kính thưa quí cử tọa, như lời thưa của nhóm CTR, tất cả những bài viết chỉ là sản phẩm của hư cấu, lãng mạn của trí tưởng tượng. Do đó, tất cả các nhân vật, các sự kiện, tất cả là… chỉ là giả tưởng thôi. Bản thân em cũng chỉ là hư ảo. Tất cả những bài viết không được một cơ quan hữu trách nào xét duyệt, do đó không có giá trị ở bất cứ lãnh vực nào … Họa chăng, chỉ có giá trị giải trí.

Tuy nhiên khi quý cử tọa đặt ra vấn đề "Sự thật không che đậy" (mà CTR coi như là khẩu hiệu của mình), thì quả thật làm cho em cũng khá bối rối, không lẽ mình lại mâu thuẫn với mình! Con người thì ai cũng phải có một chút lương tâm lành mạnh, thế nên em không biết phải trả lời làm sao, để cho lưỡng toàn. Em xin mượn lời hai bài thơ mà em nghĩ ai cũng biết, nếu em có nhớ lầm lẫn rất mong được quý cử tọa tha lỗi.

Tôn Phu Nhân Qui Thục

     Cật ngựa thanh gươm vẹn chữ tòng
,
     Ngàn thu rạng tiết gái Giang Đông,
     Lìa Ngô bịn rịn chòm mây bạc,
     Về Hán trau tria mảnh má hồng,
     Son phấn thà cam dày gió bụi,
     Đá vàng chi để thẹn non sông,
     Ai về nhắn với Châu Công Cẩn,
     Thà mất lòng anh được bụng chồng.
                                   (Tôn Thọ Tường)

Bài họa:


     Cài trâm sửa áo vẹn câu tòng,
     Mặt ngả trời chiều biệt cõi Đông,
     Ngút tỏa đồi Ngô ùn sắc trắng,
     Duyên về đất Thục đượm màu hồng,
     Hai vai tơ tóc bền trời đất,
     Một gánh cương thường nặng núi sông,
     Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết,
     Trai ngay thờ chúa gái thờ chồng,
                                   (Phan Văn Trị)

Kính thưa quý cử tọa Mưa Thu, theo ý quý cử tọa thì em nên theo phương án nào?

- Hổ nước tương: @ Cuộc họp báo 18: Cách tu PG Nguyên Thủy

Đây là những ý niệm vô cùng trừu tượng, nó đòi hỏi hành giả phải có công phu sâu dày và ít nhiều kinh nghiệm thì mới có thể hiểu nổi? Nên xin Tam Tiểu Thư và Ông Tổng Quản với chiếc áo vải sờn vai, trình bày thêm chi tiết về sự khác biệt diễn tiến của:
     1. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Nhập Định và ...
     2. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Quán đạo Quả, đạo Tâm. (Tứ Thánh).
     3. Lộ trình luồng Tâm Thức (Javana) khi Tu Thiền Tưởng (chứng Niết Bàn).
Nếu có được hình vẽ minh họa chắc sẽ dễ hiểu hơn nữa?
 

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa Hổ nước tương.

Hân hạnh được quý cử tọa nhắc đến đề tài "Nibbana" (Niết bàn). Em xin đóng góp chút ít ý kiến, mà em đọc được trong cuốn Tạp Thư.

Nếu quý cử tọa đồng ý với em rằng, những gì mà người ta đã mặc định quy ước, theo mô hình của Phật Giáo Nguyên Thủy, Niết Bàn thực sự chỉ là một trạng thái tinh thần, một quan điểm chủ quan về hạnh phúc của một cá nhân nào đó. Nó xuất phát từ trạng thái tâm lý chủ quan (em vẫn còn nhớ tới lời khuyên của cử tọa Ì Ạch, nhưng em không biết làm sao để trình bày đơn giản hơn, em mong quí cử tọa Ì ạch tha lỗi).

Nếu căn cứ trên quan điểm mặc định này, thì dường như có lẽ có nhiều trạng thái Niết Bàn tùy theo quan điểm chủ quan của từng Thực Thể. Thậm chí ở cảnh Dục Giới, một Cảnh Giới mà tính chất âm dương, nam nữ … là một hiện tượng khách quan nếu nói trên quan điểm triết học Lão Tử. Dường như Phật Giáo cũng đề cập tới bằng từ ngữ Bản Tánh Sắc. Khi có đầy đủ những yếu tố hữu duyên (có nghĩa là tạm thời), hữu lậu, đối tượng của dục vọng … thì nếu hai Thực Thể nào đó, một nam, một nữ, tạo được trạng thái đối lưu thì gọi là tương sinh tương khắc (nói theo kiểu Lão Tử). Còn theo ngôn từ thế gian thì gọi đó là sự đăng quang của tình yêu … Cho dù mang tính chất hữu duyên, có nghĩa là tạm thời, nhưng những người yêu nhau thực sự, họ đã tìm được Niết Bàn … dù chỉ trong giây lát.

Kính thưa quý độc giả Hổ nước tương.

Em xin cám ơn quý cử tọa đã cho phép em có cơ hội để trình bày về lộ trình Luồng Tâm Thức. Trong sự hạn hẹp của việc đóng góp ý kiến, em không thể trình bày quá chi tiết về đề tài mà quý cử tọa đã đề cập đến. Em chỉ xin tóm tắt một số tư tưởng cơ bản. Trong tương lai, em hy vọng khi nhóm CTR trình bày về cách tập luyện Thiền Định của Phật Giáo Nguyên Thủy, thì việc quý cử tọa đề cập đến, sẽ được đề cập chi tiết hơn. Gần đây, em cũng được một số quý cử tọa tin cậy nên có góp ý với em là nên đưa ra một "Giáo trình tập luyện Thiền Định". Thật sự, nhóm CTR đã có ý định này từ lâu, nhưng e ngại là không đảm trách nổi, vì công việc quá to lớn. Thực tế thì trong suốt chiều dài lịch sử vài ngàn năm, em chưa thấy ai làm việc này cả.

Về vấn đề Luồng Tâm Thức, trước nhất em xin nhắc lại rằng quý cử tọa cần phân biệt lộ trình của Luồng Tâm Thức và Tốc Hành Tâm. Quý cử tọa có thể xem lại những bài mà CTR đã có dịp trình bày.


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.
 
     Lộ trình Tâm còn gọi là CITTA VITHI. Đây là một tiến trình gồm có 16 thao tác tư tưởng. 

     Trong khi cái mà quý cử tọa gọi là JAVANA (Tốc Hành Tâm) thì gồm có 7 diễn tiến.

     Theo quan điểm của Phật Giáo Nguyên Thủy, 

     thì chúng ta có khả năng tri giác hai loại Đối Tượng, đó là:

     * Đối Tượng ở thế giới khách quan (là một đối tượng vật chất bất kì).
     * Đối Tượng chủ quan (đối tượng xuất hiện trong tâm lý chúng ta).

     Khi chọn một Đối Tượng: hoặc Tinh Thần hoặc Vật Chất, 
     nếu mức độ chú ý vào đối tượng đủ mạnh, thì chúng ta sẽ Nhập Định

Khi Tâm đứng im ở những giai đoạn của Tốc Hành Tâm, người ta gọi đó là Định hay Nhất Tâm. Từ ngữ chuyên ngành thì gọi cách tập luyện này là Tu Định hoặc Tu Chỉ; nghĩa là làm cho Tâm đứng lại. Trạng thái Tâm đứng im gọi là Nhập Định, Tốc Hành Tâm. 

     Suy nghĩ trong trạng thái này thì gọi là Quán Tưởng (Gồm 2 phần):
     * Quán Sắc: là nghĩ về cái Thân vật chất của mình.
     * Quán Danh: là nghĩ về cái Thân tinh thần của mình. 

Khi suy nghĩ như vậy thì từ từ người ta sẽ tìm ra nguyên nhân gì đã cấu tạo ra đời sống hiện tại. Họ tự thấy đó là do lòng ham muốn (Ái) và muốn nắm giữ trạng thái này (Thủ), do Nghiệp Lực của kiếp trước, do thức ăn đã tạo ra đời sống hiện tại … 

Càng suy tưởng trong lúc Định (chứ không phải suy nghĩ trong cuộc sống bình thường) thì càng "vỡ lẽ" những "Sự Thật", càng ngày những chi tiết càng nổi bật. Cuối cùng phát hiện ra rằng các hiện tượng của đời sống hiện tại, đều mang tính chất: Vô Thường / Vô Ngã / Khổ Não.

Chẳng có hạnh phúc nào là thường hằng vĩnh cửu. Hạnh Phúc Thế Gian chỉ mang tính chất tạm thời, bắt nguồn từ Dục Vọng ... > Cứu Cánh cuối cùng là Khổ Đau.

Trong lúc tu Thiền Định, người tu sử dụng khả năng Định Tâm để quán xét, suy nghĩ về nhiều hiện tượng khách quan của thế giới tự nhiên. Thí dụ như Quán về 10 Phiền Não cơ bản. Qua quá trình tập luyện, khả năng đạt được một vị trí nào đó thì gọi là Đạo (Maggacittam), và khi biết được vị trí của mình thì gọi là Quả (Phalacitta)


Lộ trình của Javana như sau:

1
.Parikamma  2.Upacara  3.Anuloma  4.Gotrabhu  5.Magga  6+7.Phala
   Chuẩn Bị             Cận Hành        Thuận Thứ       Chuyển Tánh     Đạo               Quả


.·:*´¨¨`*:·..·:*´¨¨`*:·.

 Kính thưa quý cử tọa Hổ nước tương

Bài Luồng Tâm Thức có lẽ là một bài viết hay nhất của tài liệu Vi Diệu Pháp và đồng thời cũng là bài khó nhất vì những lý do sau đây:

* Bài này đòi hỏi người đọc phải có những kiến thúc về các loại Tâm, các loại Sắc.

* Mặt khác, cần phải có những kinh nghiệm, thực chứng của người tu Thiền Định ở các lớp Định. Chỉ trong tình trạng này, thì độc giả mới phát hiện ra tính chất huy hoàng, lộng lẫy, rực rỡ của chương Lộ Trình Tâm. Độc giả sẽ phát hiện ra bài lộ trình tâm nói riêng và những bài viết khác của VDP hoặc Tam Pháp Độ Luận … là kết quả kinh nghiệm thực tế của người tu Thiền Định. Nó được viết ra bởi việc kinh qua thực tế người tu Thiền Định. Chỉ có người tu Thiền Định thực sự, thực chứng thì mới có thể hiểu nó nói gì. Em nghĩ là dù tu Thiền Định bao lâu, theo bất cứ ở trường phái nào, mà nếu không Thực Chứng, thì thấy tài liệu này không có giá trị gì cả. Ngược lại, đối với người tu Thiền Định Thực Chứng, dù ở bất cứ trường phái nào, lại thấy nó là một máy định vị dẫn đường, là một tấm bản đồ có định hướng, là chiếc la bàn, là ngôi sao Bắc Đẩu … dành riêng cho chính mình. Kể cả những vị từng dịch tài liệu này, nếu không Thực Chứng, thì cũng chỉ có thể hiểu giá trị của nó bằng lý thuyết.

Đây chỉ là những nhận xét chủ quan, chắc chắn sẽ có nhiều sai sót, rất mong quý cử tọa chỉ bảo.

- Tam Tiểu Thư: Sau đây em xin đăng tải ý kiến của 2 Ì Ạch, em xin phép đóng góp từng phần một để chúng ta dễ theo dõi.

- 2 Ì ẠCH: @ Cuộc họp báo 18: ... theo cái gì đúng!

Sau khi được cô 3T ưu ái mời tui uống cà phê sau cuộc họp báo thứ 13. Ra về, lòng tui tràn đầy cảm kích vì sự nhiệt tình và tinh thần làm việc đầy trách nhiệm của cô 3T.

Kính thưa cô 3T cùng tất cả quý cử toạ! 2 ì ạch tui xin phép được kiến nghị và tham vấn cô 3 về một vài vấn đề đang rất bức xúc trong lòng tui. Thưa cô 3, đã gần 2 tháng rồi tui không có tập tành gì cả, những sự thật mà CTR "phanh phui" về một cõi Tịnh độ 100% Made in China, và chứng minh nó bằng những dẫn chứng từ "chính sử" đã làm tui choáng váng và thực sự là tui HOÀN TOÀN MẤT PHƯƠNG HƯỚNG. Đó là một điều vô cùng tệ hại đối với tui, một kẻ tu hành chưa ra môn ra khoai gì nhưng rất nghiêm túc. Cú sốc này chắc có lẽ không chỉ riêng tui mà còn cho rất nhiều người muốn tin vào hai chữ SỰ THẬT.


- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

Qua phần đóng góp của quý cử tọa, em có cảm nhận là dường như quý cử tọa ít nhiều có thái độ bi quan, đưa đến trạng thái “HOÀN TOÀN MẤT PHƯƠNG HƯỚNG” thậm chí là "choáng váng", "tạo ra một trạng thái tệ hại đối với tui
". Quý độc giả còn minh họa như một cú sốc.

Em xin mạn phép đóng góp như sau:

Quý cử tọa thử nghĩ xem, nếu chúng ta cứ tiếp tục lầm lẫn sử dụng hàng nhái suốt cuộc đời của mình, như bao nhiêu thế hệ, trong mười mấy thế kỷ đã trôi qua, thì hệ quả sẽ ra sao? Đối với người đi trước, thì đó là những bàn đã thua một cách tuyệt đối và thuyết phục. Còn quý độc giả và em … thì sẽ có những bàn thua trông thấy, không thể tránh được, tất yếu phải xảy ra. Nhưng một khi quý độc giả cùng em, phát hiện ra hàng Made in China, thì chúng ta có cơ may là ít nhất cũng "huề" và hoàn toàn có nhiều khả năng "thắng". Do đó, em cho là tình hình hôm nay của chúng ta, đáng lạc quan hơn tiền nhân của chúng ta trong quá khứ. Vì vậy chúng ta nên lạc quan và hy vọng, vì tương lai đầy hứa hẹn! Em nói như vậy không biết quý cử tọa nghĩ sao? Chúng ta may mắn hơn cổ nhân rất nhiều, nhờ sự nổ lực của
quý cử tọa cùng em, chúng ta đã tìm ra con đường đi đúng … Em rất mong quý cử tọa nhìn thấy phương hướng để đi, nhận ra rằng tình trạng của mình tốt hơn và tin vào một tương lai tốt đẹp.

- 2 Ì ẠCH: @ Cuộc họp báo 18: ... theo cái gì đúng!
 
Cá nhân tui cho rằng, những SỰ THẬT mà CTR đưa ra đã là quá đủ, không cần phải bàn luận gì thêm nữa (cá nhân tui thôi nghen cô 3) và đã đến lúc CTR nên đưa ra một "Chương trình luyện tập Thiền Định" hoàn chỉnh để hướng dẫn những người hữu duyên cách Thiền Định một cách bài bản có hệ thống, nhằm giúp cho những người bình dân mà bày đặt tu Phật như tui được tu – tập theo đúng cách, đúng cái ĐẠO của ông Thích Ca (Ấn Độ), để còn mong đến một kiếp nào đó đến được bến bờ GIÁC NGỘ. Chớ còn tu theo cái kiểu ông Thích Ca (Trung Quốc) e rằng đích đến của tụi tui sẽ là … quán karaoke và GIÁC cái gì sao thấy NGỘ quá dzậy ta. Những bài viết của CTR trên blog tuy là đã khá rõ ràng, nhưng nó mang tính riêng rẽ từng chủ đề, chứ chưa mang tính hệ thống riêng biệt về phương pháp Thiền định từ 1, 2, 3, 4 …và có nhiều bài viết vì phải dẫn chứng, chứng minh bằng khoa học nên dùng nhiều từ Ănglê quá, khiến cho bọn bình dân học dzụ như tui khó mà hiểu nổi (nếu có thể, sau này nếu phải dùng từ Ănglê, tui kiến nghị CTR cố gắng thuyết minh ra tiếng Việt mình sao cho sát ý nhất có thể, để tụi tui … ráng cố gắng hiểu nha).

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

Em được biết nhóm CTR, đã từ lâu có tham vọng, là trình bày 3 vấn đề, mà dường như thuở xưa ngài Sakya Muni từng triển khai trên thực tế: 


          Lý thuyết kỹ thuật tu Thiền Định.
          Lý thuyết kỹ thuật mở Con Mắt Thứ 3.
          Xuất cái Tôi ra đi trước khi Thần Chết đến.

Nếu quý cử tọa có dịp xem lại tiểu sử của một số vị, được mô tả như là Giáo Chủ của các trường phái, thì dường như họ có một cái chết bình thường như tất cả mọi người. Nôm na mà nói, dường như họ bất lực trước thần chết. Họ đau bệnh, sốt cao, thậm chí có vị không có nấm mồ để chôn. Ở đây em muốn nói tới một vấn đề, là dường như các vị ấy đã không có một cách nào để giải quyết vấn đề cái chết khác hơn so với con người bình thường. Em cho là, có lẽ các vị nói trên thiếu khả năng kỹ thuật về 3 vấn đề mà chúng ta nêu ra ở trên, cho nên (theo như Huyền sử hay Lịch sử), họ phải chấp nhận cái chết như mọi người bình thường. Trên tinh thần dè dặt của khoa học, rất có thể họ có những kỹ năng khác mà chúng ta chưa rõ. Tuy nhiên trong 3 kỹ năng nói trên, thì ít nhất chúng ta có thể tìm thấy kỹ năng thứ nhất trong những bộ luận của trường phái nguyên thủy.

Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

CTR tự nhận ra rằng viết
"Chương Trình luyện tập Thiền Định" là một công việc quá to lớn, vì từ xưa đến nay nhân loại chưa từng làm. Công việc này có thể kéo dài đến chết, có nghĩa là phải trải qua nhiều thập kỷ, bởi lẽ ít nhất có hai công tác phải làm song song: 

Khảo cứu các tài liệu, sưu tầm thông tin, phân tích, tổng hợp.
Sau khi có những giả thuyết, lý thuyết, phát biểu, công thức … cần phải đưa vào thử nghiệm trên thực tế để kiểm định tính cất hiệu quả.

Vì lý do nói trên, có lẽ chỉ có một con đường duy nhất là con đường thực nghiệm, sẽ là cái thước đo thực tế đáng tin cậy nhất. Rất mong được quý cử tọa thực sự chia sẻ công việc thử nghiệm bằng thiền định qua từng phần của bài viết. Em không thể hình dung hết những thách thức mà nhóm CTR sẽ phải trải qua, mặc dù việc này đã từng triển khai qua nhiều thập kỷ. Cũng như quý độc giả, CTR cũng phải lo về đời sống của chính bản thân mình, nên sẽ là thách thức khi muốn khảo cứu từng chi tiết, từng vấn đề. Do đó việc đưa ra, cụ thể là "Chương trình luyện tập Thiền Định
" hay nói đúng hơn là một giáo trình Thiền định là một tham vọng, nhưng dẫu sao CTR cũng hy vọng sẽ biến thành thực tế.


 - 2 Ì ẠCH: @ Cuộc họp báo 18: ... theo cái gì đúng!

Những bài viết của CTR trên blog tuy là đã khá rõ ràng, nhưng nó mang tính riêng rẽ từng chủ đề, chứ chưa mang tính hệ thống riêng biệt về phương pháp Thiền định từ 1, 2, 3, 4 … và có nhiều bài viết vì phải dẫn chứng, chứng minh bằng khoa học nên dùng nhiều từ Ănglê quá, khiến cho bọn bình dân học dzụ như tui khó mà hiểu nổi (nếu có thể, sau này nếu phải dùng từ Ănglê, tui kiến nghị CTR cố gắng thuyết minh ra tiếng Việt mình sao cho sát ý nhất có thể, để tụi tui … ráng cố gắng hiểu nha).

- Tam Tiểu Thư:
Kính thưa quý cử tọa 2 Ì Ạch.

Điều nhắc nhở của quý cử tọa 2 Ì Ạch thật vô cùng là quý giá. Sở dĩ bài viết của CTR có nhiều tiếng nước ngoài mà không dịch ra tiếng Việt Nam, vì em e ngại là khi dịch ra tiếng Việt Nam, có những quý độc giả sẽ nghi ngờ là, bản dịch tiếng Việt, cách dịch tiếng Việt, cách sử dụng từ ngữ, có ý đồ làm sai lệch nguyên bản, có thể là mang tính chất ác ý. Kể từ nay, qua đóng góp đầy xây dựng và thiện chí của quý cử tọa, em sẽ cố gắng ít sử dụng từ ngữ nước ngoài. Nếu có sử dụng sẽ mạnh dạn dịch ra tiếng Việt Nam, trong khả năng hiểu biết khiêm tốn của mình. Về vấn đề trình bày, em sẽ cố gắng bằng cách nào đó để thuyết minh, trình bày nặng tính thực dụng theo kiểu văn hóa người Mỹ. Cuối cùng em xin cảm ơn quý cử tọa đã có thiện cảm với nhóm CTR, nên đã chỉ bảo một cách nhiệt tình đầy tính chất xây dựng.

Tam Tiểu Thư chắp hai tay trước trán, nghiêm chỉnh chào tạm biệt cử tọa vẫn với thái độ vui vẻ nhiệt tình, khiêm tốn và nụ cười đôn hậu vốn có …